ODA đạt quy mô khá và tăng trưởng rất cao

Yêu cầu tăng trưởng cao hơn, tăng trưởng ổn định kinh tế vĩ mô đòi hỏi phải có lượng vốn đầu tư lớn, trong đó có nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).




ODA thực hiện bình quân năm qua các thời kỳ - Nguồn: TCTK


Diễn biến ODA thực hiện 20 năm qua có một số điểm đáng lưu ý. Quy mô ODA thực hiện đạt mức khá. Tính từ năm 1993 đến hết tháng 6/2013, lượng vốn ODA đã đạt gần 38,2 tỷ USD, bình quân 1 năm đạt 1,91 tỷ USD. Lượng vốn ODA thực đã chiếm gần 3,4% GDP của cả nước, chiếm trên 1/10 tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.



Năm 2013, mới qua nửa thời gian nhưng lượng vốn ODA thực hiện đã đạt khoảng 2,2 tỷ USD, lớn hơn lượng vốn ODA thực hiện bình quân năm trong 20 năm trước đó. Đây là một tín hiệu khả quan để cả năm 2013 sẽ vượt qua đỉnh điểm năm 2012.

Lượng vốn ODA thực hiện tăng với tốc độ khá cao: năm 2012 cao gấp 9 lần so với năm 1993, tăng bình quân 1 năm gần 11,6% - một tốc độ tăng cao hai chữ số, gần như liên tục, trong một thời gian khá dài. So với cùng kỳ năm trước, lượng vốn ODA thực hiện trong 6 tháng đầu năm nay đã tăng 10%, tiếp tục duy trì tốc độ tăng 2 chữ số trong 20 năm trước. Điều đặc biệt là lượng vốn ODA thực hiện vẫn liên tục tăng ngay cả khi Việt Nam bị khủng hoảng hoặc bị tác động của khủng hoảng ở bên ngoài.

Năm 1993-1994, Việt Nam chưa thoát khỏi ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kéo dài trong những năm 1980, đầu những năm 1990 và bị hụt hẫng về vốn đầu tư, viện trợ và thị trường buôn bán ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu, ngay cả khi ODA tăng trở lại, lượng vốn cam kết đã đạt 1861 triệu USD, lượng vốn thực hiện đã đạt 413 triệu USD; chỉ 2 năm sau, vào năm 1995, lượng vốn cam kết đã đạt 2,311 tỷ USD (tăng 24,2% so với 1993), lượng vốn thực hiện đã đạt 737 triệu USD (tăng 78,5% so với 1993). Năm 1997, 1998 cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ bắt đầu từ khu vực Đông Nam Á, nhưng lượng vốn ODA thực hiện vẫn tăng liên tục trong các năm đó và năm 1999 vẫn tăng 50% so với năm 1996. Năm 2008, mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu xảy ra và kéo dài cho đến nay chưa phục hồi, nhưng ODA thực hiện vẫn liên tục tăng trong thời gian đó (năm 2012 so với năm 2007 đã tăng 70%).

Nguồn vốn ODA đã đặt dấu ấn ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều công trình, ở nhiều vùng miền của đất nước, trong đó có các lĩnh vực điện, giao thông, nước sạch, y tế, giáo dục, dân số, đặc biệt là việc xoá đói giảm nghèo đã vượt sớm mục tiêu của thế giới.

Cùng với dấu ấn ở các công trình, các ngành, lĩnh vực, nguồn vốn ODA còn góp phần quan trọng vào việc ổn định và cải thiện kinh tế vĩ mô. Phần viện trợ không hoàn lại trong ODA của nhiều năm trước đã góp phần vào việc cân đối ngân sách hằng năm. ODA thực hiện là nguồn ngoại tệ mạnh, đã góp phần cải thiện cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại hối của quốc gia, ổn định tỷ giá…

Trong 6 tháng đầu năm 2013, Việt Nam bước đầu kiềm chế được lạm phát và mặc dù chưa thể chủ quan, lơ là, nhưng có thể yên tâm hơn về việc thực hiện mục tiêu chuyển sang ưu tiên hơn cho tăng trưởng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao hơn theo Nghị quyết của Quốc hội.

Muốn tăng trưởng, cần phải có vốn đầu tư, bởi vốn đầu tư là yếu tố quyết định trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng. Trong điều kiện hiện nay, lượng vốn trong nước bị hạn chế. Lượng vốn từ ngân sách gặp khó khăn về cân đối ngân sách. Lượng vốn từ thị trường chứng khoán còn nhỏ và không ổn định do gặp khó khăn về giá trị giao dịch và điểm số. Lượng tín dụng ngân hàng còn tăng thấp. Cùng với lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), lượng vốn ODA tăng vào lúc này là rất có ý nghĩa, không chỉ là lượng vốn mà còn là kỳ vọng, bởi đầu tư vào đâu có một phần quan trọng là “trông giỏ bỏ thóc” của các nhà đầu tư. Trong điều kiện tỷ giá đã được ổn định trong thời gian khá dài và Việt Nam vẫn rất cần tăng dự trữ ngoại hối, nhưng gần đây đã tăng lên, việc lượng ngoại tệ vào Việt Nam từ các nguồn là rất có ý nghĩa.

Vấn đề quan trọng hiện nay là cần có lượng vốn trong nước đối ứng; cần đẩy nhanh việc giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ thi công và quan trọng hơn là tăng hiệu quả sử dụng vốn ODA…



Theo Minh Ngọc Chinhphu.vn

Kết quả bước đầu triển khai Nghị quyết 01 và 02 của Chính phủ



Bộ Tài chính vừa có báo cáo về tình hình triển khai thực hiện các Nghị quyết số01/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP trong lĩnh vực tài chính-ngân sách Nhà nước.

Đánh giá chung kết quả triển khai thực hiện 5 tháng đầu năm, Bộ Tài chính cho biết, sau 5 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết 01 của Chính phủ trong lĩnh vực tài chính-ngân sách Nhà nước (NSNN), Bộ Tài chính đã thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, triệt để tiết kiệm.

Chi ngân sách đảm bảo theo dự toán

Bộ Tài chính đã chủ động phát hành trái phiếu Chính phủ bù đắp bội chi NSNN và cho đầu tư phát triển phù hợp yêu cầu điều hành và với tình hình thị trường. Ước tính đến hết tháng 5/2013 đã tổ chức huy động được trên 104,3 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, đạt 53,5% nhiệm vụ huy động vốn cả năm 2013. Cùng với xu hướng điều chỉnh giảm lãi suất tín dụng của hệ thống ngân hàng, lãi suất trái phiếu Chính phủ cũng được điều chỉnh giảm dần.

Trong điều kiện số thu ngân sách đạt thấp, song nhờ chủ động trong tổ chức điều hành NSNN và triển khai quyết liệt công tác huy động vốn, nên các nhiệm vụ chi ngân sách vẫn được đảm bảo theo dự toán và tiến độ triển khai của các chủ đầu tư, đơn vị sử dụng ngân sách, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, hoạt động của bộ máy Nhà nước và xử lý kịp thời các nhu cầu bảo đảm an sinh xã hội.

Bình ổn giá cả, thị trường

Về tăng cường kiểm soát giá cả, thị trường, Bộ Tài chính đang tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các chế độ, chính sách về quản lý giá, tập trung các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Quản lý giá; Tổ chức thanh tra, kiểm tra công tác quản lý và bình ổn giá tại một số địa phương, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật về giá gắn với kiểm tra chấp hành pháp luật về thuế; kiểm tra, kiểm soát thị trường, ngăn chặn các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, góp phần bình ổn giá cả hàng hóa thị trường trong nước.

Bộ Tài chính cho biết, nhằm bình ổn giá cả thị trường, đã tạm thời giãn thời gian điều chỉnh giá đối với một số hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước còn kiểm soát giá và giữ ổn định giá một số hàng hóa, dịch vụ thiết yếu đối với sản xuất, đời sống nhân dân (giá điện, giá than, giá cước bưu chính...) để giảm áp lực gia tăng lạm phát; tổ chức thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu kịp thời để giúp doanh nghiệp giảm chi phí lưu kho, lưu bãi, hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, lưu thông giảm áp lực tăng giá đầu ra, góp phần bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa, dịch vụ...

Nhiều giải pháp tài chính tháo gỡ khó khăn cho DN

Thực hiện Nghị quyết 02 của Chính phủ, Bộ Tài chính đã cơ bản triển khai thực hiện xong các giải pháp về tài chính-NSNN theo phân công; đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 23/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về lệ phí trước bạ; trên cơ sở đó đã ban hành Thông tư hướng dẫn việc giảm mức thu lệ phí trước bạ đối với xe ô tô chở người dưới 10 chỗ; ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện gia hạn, giảm một số khoản thu ngân sách Nhà nước theo Nghị quyết số 02/NQ-CP...

Về cấp bảo lãnh Chính phủ và tín dụng Nhà nước, đã hoàn thành việc phân bổ, thông báo bổ sung 10.000 tỷ đồng vốn cho vay cho Chương trình tín dụng đầu tư kiên cố hóa kênh mương cho các địa phương để thực hiện. Bên cạnh đó, đã xuất 250 tỷ đồng từ Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp để cấp bổ sung cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam (Quỹ dự phòng rủi ro bảo lãnh vay vốn).

Về giải quyết nợ xấu, Bộ Tài chính đang triển khai nghiên cứu hoặc phối hợp nghiên cứu, xây dựng cơ chế và phương án giải quyết nợ xấu đối với Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam; xây dựng đề án tái cơ cấu Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) và Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC)…

theo Thùy Trang Chinhphu.vn

Đồng Nai: Kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2013 Có khởi sắc

Trong hai ngày 5 và 6-7, tại hội trường Tỉnh ủy diễn ra hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ 13 (khóa IX) nhằm đánh giá tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2013 và bàn các giải pháp cho những tháng còn lại.

Theo đó, mặc dù GDP của Đồng Nai tăng 10,7%, chưa đạt mục tiêu nghị quyết nhưng mức tăng này đã cao hơn 2 lần so với mức tăng trưởng bình quân chung cả nước và cao nhất so với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

* Những tín hiệu vui

Đồng chí Trần Minh Phúc, Ủy viên Ban TVTU, Phó chủ tịch UBND tỉnh, cho biết với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, kinh tế - xã hội của tỉnh 6 tháng đầu năm có sự phát triển khá. Trong đó, sản xuất công nghiệp quý I tăng 10,6%, đến quý II tăng hơn 11%. Việc thu hút đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài vào Đồng Nai vẫn tăng mạnh; tiến độ giải ngân cũng đạt những kết quả tích cực, với tổng vốn đầu tư thực hiện 6 tháng qua hơn 18 ngàn tỷ đồng, đạt 51% kế hoạch năm, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2012.
Giám đốc Sở Tài chính Hồ Thanh Sơn tham gia ý kiến tại hội nghị.


Theo đồng chí Phạm Minh Đạo, Giám đốc Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn, 6 tháng qua các địa phương đã tích cực thực hiện các biện pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp với điều kiện thời tiết và thị trường, nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả. Đồng Nai đã hình thành được các vùng chuyên canh cây trồng, như: tiêu, cà phê, sầu riêng, bưởi, xoài và phát triển chăn nuôi theo trang trại. Mặc dù chăn nuôi thời gian qua gặp nhiều rủi ro do giá cả, dịch bệnh nhưng số lượng đàn heo vẫn tăng 3% và đàn gà tăng 14% so cùng kỳ.


* Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Trí: Không có chuyện UNESCO loại hồ sơ Vườn quốc gia Cát TiênVườn quốc gia Cát Tiên đã được đoàn chuyên gia Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) là cơ quan của UNESCO khảo sát kỹ và đánh giá rất cao các giá trị về đa dạng sinh học. Tuy nhiên, do chúng ta chưa có kinh nghiệm viết báo cáo nên có một số vấn đề chưa đạt. Cụ thể là, chưa làm nổi bật được giá trị toàn cầu so với các khu dự trữ sinh quyển khác trên thế giới, chưa làm rõ được công tác quản lý và chưa đưa ra được các yếu tố có thể tác động tiêu cực đến khu dự trữ sinh quyển. Hiện nay, 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A dự kiến có thể nằm trong vùng lõi của Vườn quốc gia Cát Tiên nên trình hồ sơ đề nghị cũng là một bất lợi, do đó tỉnh đã chủ động có văn bản trình Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch, Ủy ban UNESCO Việt Nam và đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho rút hồ sơ viết lại. Nếu không có gì thay đổi thì tháng 9 này Đồng Nai sẽ tiếp tục trình hồ sơ đề nghị Vườn quốc gia Cát Tiên lên UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới.


Ở lĩnh vực văn hóa - xã hội, số trường công lập đạt chuẩn quốc gia các bậc học tăng 39 trường; số học sinh bỏ học giảm. Toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho trên 51 ngàn lao động (chủ yếu thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội) và tuyển mới đào tạo nghề cho hơn 32 ngàn lao động... Các vụ khiếu kiện đông người, tội phạm hình sự, cháy nổ, tai nạn giao thông... đều giảm.

Theo báo cáo của Tỉnh ủy, 6 tháng đầu năm 2013 số đảng viên bị thi hành kỷ luật tăng 0,1% so với cùng kỳ. Đồng chí Huỳnh Văn Tịnh, Bí thư Huyện ủy Thống Nhất, nhận định đây là điều hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ một trong những giải pháp để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 là phải xử lý kỷ luật nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm để giữ kỷ luật Đảng và lòng tin của nhân dân. Do vậy, việc đảng viên vi phạm bị xử lý kỷ luật tăng trong 6 tháng qua là một hiệu ứng tích cực từ thực hiện Nghị quyết Trung ương 4.

* Phải luôn chủ động

Nhận định về tình hình 6 tháng cuối năm và những giải pháp phải tập trung để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cả năm 2013, Phó chủ tịch UBND tỉnh Trần Minh Phúc cho rằng việc sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp chưa hết những khó khăn, bởi còn phải phụ thuộc rất lớn vào thị trường. Theo đó, phải tìm được thị trường tiêu thụ sản phẩm một cách ổn định, có hiệu quả. Các cấp, ngành, địa phương cần làm tốt việc công bố những thông tin, nhất là thông tin về thị trường, các chương trình thương mại, xúc tiến đầu tư cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần quan tâm việc cập nhật những chính sách mới cho doanh nghiệp, như chính sách thuế, việc xuất khẩu; kết nối thị trường cho doanh nghiệp. Các sở, địa phương phải tiếp tục thực hiện lịch tiếp và làm việc với doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp.
Tại hội nghị, một trong những vấn đề được đồng chí Bí thư Tỉnh ủyTrần Đình Thành đặc biệt quan tâm đó là những hạn chế trong cải cách hành chính. Đồng chí cho rằng, vẫn còn tình trạng một số cán bộ, công chức yêu cầu người dân, doanh nghiệp phải nộp thêm nhiều giấy tờ, thủ tục không có trong danh mục quy định. “Các cơ quan chức năng cần phải làm rõ những tồn tại này nằm ở đâu, cơ quan nào. Bởi, không làm tốt cải cách hành chính sẽ làm cản trở sự phát triển của tỉnh, của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến đời sống nhân dân” - đồng chí Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh.


Trong khi đó, đồng chí Huỳnh Văn Tịnh cho rằng, Đồng Nai cần đẩy mạnh kêu gọi đầu tư xây dựng nhà ở xã hội. “Chỉ khi người dân có nhà cửa ổn định thì họ mới nghĩ đến chuyện mua sắm. Đó cũng là giải pháp để thúc thị trường tiêu thụ đồng thời, trong tiêu thụ sản phẩm, Đồng Nai nên liên kết với TP. Hồ Chí Minh”- đồng chí Huỳnh Văn Tịnh nói.

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Trần Đình Thành nêu rõ, nhiệm vụ của tỉnh từ nay đến cuối năm còn rất nặng nề, vì thế cấp ủy, chính quyền, địa phương luôn phải chủ động để dù có khó khăn nhưng vẫn ứng phó tốt.

Nhìn về tăng trưởng nửa cuối năm 2013

Từ 1/7, khi nhiều chính sách mới bắt đầu được thực hiện như: tăng lương tối thiểu, hỗ trợ người dân mua nhà ở xã hội; giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; Công ty Quản lý Tài sản Quốc gia bắt đầu hoạt động… chắc chắn sẽ tác động tương đối rõ đối với tăng trưởng GDP.



Ảnh minh họa

Trước hết có thể thấy "chỉ tiêu" CPI trong 6 tháng còn lại khá rộng so với 6 tháng đầu năm (tăng 4,3% hay 0,7%/tháng so với tăng 2,4% hay 0,4%/tháng). Khi lạm phát không còn là mối lo lớn, cơ quản lý Nhà nước có thể yên tâm hơn với việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao hơn.

Thuận lợi về nhiều chỉ số

Xét về chỉ tiêu xuất khẩu còn lại trong 6 tháng cuối năm tuy cao hơn 6 tháng đầu năm (63,9 tỷ USD, bình quân 1 tháng phải đạt 10,65 tỷ USD, so với 62,1 tỷ USD và 10,35 tỷ USD/tháng), nhưng theo thông lệ trong nhiều năm, kim ngạch 6 tháng cuối năm thường cao hơn 6 tháng đầu năm. Nhiều chuyên gia dự đoán, kim ngạch xuất khẩu cả năm có thể vượt qua mốc 128 tỷ USD. Đây là một yếu tố quan trọng, thậm chí là lối ra, góp phần tăng trưởng GDP.

Chỉ tiêu nhập khẩu 6 tháng cuối năm còn khá rộng rãi so với 6 tháng đầu năm (72,5 tỷ USD so với 63,5 tỷ USD), nên thực tế có thể sẽ thấp hơn nhiều. Nhập siêu theo chỉ tiêu trong 6 tháng cuối năm còn rộng rãi hơn nhiều. Song đây là “chỉ tiêu” không nên thực hiện hết, bởi một mặt sẽ chèn ép sản xuất ở trong nước và gây sức ép mất cân đối cán cân thanh toán, ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối, đến sự ổn định tỷ giá…

Trong 6 tháng cuối năm, nguồn vốn khu vực Nhà nước sẽ được thực hiện cao hơn, khi tiến độ thực hiện vốn từ ngân sách 6 tháng đầu năm (trên 112,6 nghìn tỷ so với 88,5 nghìn tỷ đồng); khi các doanh nghiệp Nhà nước sẽ thoái vốn để tập trung cho ngành, lĩnh vực chính.

Nguồn vốn FDI, ODA thực hiện có tín hiệu khả quan cao hơn. Khi giá vàng giảm, giá USD ổn định, giá bất động sản chưa tăng, giá chứng khoán vẫn còn lình xình, lãi suất tiết kiệm tuy vẫn đạt thực dương nhưng tính cả năm phần thực dương cũng không lớn thì xu hướng đầu tư trực tiếp cho sản xuất và chi tiêu dùng của dân cư sẽ cao lên.

Tăng trưởng tín dụng trong 6 tháng cuối năm, nếu theo định hướng cả năm tăng 12% thì còn tăng 7,9%, cao hơn gấp đôi 6 tháng đầu năm; nếu đạt mức cao 13-14% như mong muốn của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, thì 6 tháng cuối năm sẽ đạt trên dưới 10%. Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng GDP cao lên.

Tác động mạnh về kích cầu

Từ nay đến cuối năm, có 4 chính sách tác động tương đối rõ đối với tăng trưởng GDP.

Thứ nhất, việc tăng lương tối thiểu 100.000 đồng/tháng/người sẽ tác động đến 2,8 triệu người, với tổng số tiền khoảng 21 nghìn tỷ đồng tăng thêm. Việc nâng mức thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân (từ 4 triệu và 1,6 triệu đồng lên 9 triệu và 3,6 triệu) sẽ giảm đóng góp của khoảng 2 triệu người, tương đương với 4-5 nghìn tỷ đồng. Với lượng tiền 25- 26 nghìn tỷ đồng do 2 chính sách trên mang lại sẽ góp phần tăng cầu, kích thích tiêu dùng, giảm tồn kho hàng hóa và tăng sản phẩm dịch vụ, thúc đẩy sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ.

Việc giảm thuế VAT còn 5% cho nhà ở xã hội và giảm 50% đối với giá bán các căn hộ có diện tích dưới 70m2, giá dưới 15 triệu đồng/m2 đối với nhà ở thương mại, một mặt sẽ tạo điều kiện cho nhiều người có nhu cầu thực có khả năng chi trả để có nhà ở, tạo sự an cư; mặt khác sẽ góp phần giảm lượng bất động sản tồn kho, thúc đẩy các dự án mới được triển khai… cùng tính lan tỏa của nó.

Việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa xuống 20% sẽ giúp cho các doanh nghiệp này (chiếm tới trên 90% tổng số doanh nghiệp) giảm bớt gánh nặng, giảm giá bán sản phẩm, giữ được công ăn việc làm cho người lao động đang làm việc, tạo công ăn việc làm mới.

Việc ra đời của Công ty Quản lý Tài sản (VAMC) với mục tiêu xử lý khoảng 100 nghìn tỷ đồng nợ xấu, vừa góp phần làm lành mạnh hệ thống ngân hàng, vừa giúp khai thông vốn tín dụng tăng trưởng - một trong những điểm nghẽn ảnh hưởng đến sự sống còn của nhiều doanh nghiệp và sự trì trệ của nền kinh tế.

Tuy nhiên, đó là kỳ vọng. Muốn biến kỳ vọng đó thành hiện thực thì một mặt phải triển khai thực hiện nhanh (do các chính sách về tài chính, tiền tệ thường có độ trễ 2-3 tháng); mặt khác, việc thực hiện phải đồng bộ, đúng đối tượng…

Đồng thời, rất cần lưu ý nhiệm vụ thu ngân sách còn rất nặng nề, chủ yếu so với dự toán cả năm, tổng thu ngân sách 6 tháng đầu năm (tính đến 15/6) mới đạt 39,8% khi tăng trưởng sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, một số khoản thu quan trọng bị suy giảm, lại phải cắt giảm, giãn hoãn một số khoản thu ngân sách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường.

Theo Minh Ngọc chinhphu.vn

TPHCM công bố Quyết định điều chỉnh quy hoạch giao thông nhằm giảm tải áp lực kẹt xe

Ngày 28-6, Bộ Giao thông Vận tải và UBND TPHCM tổ chức Hội nghị công bố Quyết định 568 của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh Quy hoạch giao thông vận tải TPHCM đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020.

Theo quy hoạch, ngoài hầm Thủ Thiêm (đường hầm sông Sài Gòn) nằm trên trục Đông - Tây, Chính phủ đồng ý việc xây hầm Thủ Thiêm 2 băng qua sông Sài Gòn (đường sắt đôi phục vụ đường sắt đô thị số 2). Xây mới 14 cầu vượt sông Sài Gòn gồm cầu Bình Quới (bán đảo Thanh Đa - Thủ Đức), Thủ Thiêm 2 (đường Tôn Đức Thắng), Thủ Thiêm 3 (quận 4 - quận 2), Thủ Thiêm 4 (quận 7 - quận 2), cầu mới Bình Khánh trên sông Nhà Bè; cầu Phước Khánh trên sông Lòng Tàu...

TPHCM cũng xây dựng, hoàn thiện 5 trục đường cao tốc có năng lực thông xe lớn gồm TPHCM - Long Thành - Dầu Giây (dài 55 km, quy mô 6-8 làn xe); TPHCM - Thủ Dầu Một - Chơn Thành (dài 69 km, 6-8 làn xe); TPHCM - Mộc Bài (dài 55 km, 4-6 làn xe); Bến Lức - Long Thành (dài 58 km, 6-8 làn xe); Biên Hòa - Vũng Tàu (dài 76 km, 6-8 làn xe). Tuyến cao tốc TPHCM - Trung Lương sẽ được mở rộng quy mô 8 làn xe. Hệ thống đường trên cao cũng được xây dựng gồm 5 tuyến với tổng chiều dài 70,7 km, quy mô 4 làn xe. 8 tuyến đường sắt đô thị xuyên tâm và vành khuyên nối với các trung tâm chính của thành phố, chủ yếu đi ngầm trong nội đô cũng nằm trong kế hoạch xây dựng của TPHCM. 

Hệ thống xe buýt nhanh (BRT) theo quy hoạch sẽ có 6 tuyến (tuyến đầu tiên dọc theo đại lộ Đông - Tây dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2017). Quỹ đất dự kiến dành cho hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông TP đến năm 2020 khoảng 22.305 ha chiếm 22,3% quỹ đất xây dựng của TP.

Phát triển mạng lưới hạ tầng giao thông đồng bộ, bền vững, hiện đại đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân thuận tiện, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Cải tạo, nâng cấp Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất đạt công suất 23,5 triệu khách và 600.000 tấn hàng hóa một năm. Cảng hàng không quốc tế Long Thành, tỉnh Đồng Nai, dự kiến được triển khai sau năm 2015.

Quốc Hùng 

Cần 15 tỷ đồng để di dời KCN Biên Hòa 1 ra khỏi trung tâm thành phố

Chiều 8-7, Đoàn công tác của Ủy ban Khoa học, Công nghệ - Môi trường của Quốc hội có buổi làm việc với tỉnh Đồng Nai về việc di dời khu công nghiệp Biên Hòa 1 để chuyển đổi công năng thành Khu đô thị - thương mại - dịch vụ hiện đại.

Cùng dự, có đại diện các bộ: Tài nguyên - Môi trường, Xây dựng, Kế hoạch - Đầu tư, Tài chính, Công thương.

Trước đó, vào buổi sáng cùng ngày, đoàn đã đi khảo sát thực tế tại khu công nghiệp (KCN) Biên Hòa 1, KCN Giang Điền (khu vực dành cho các doanh nghiệp di dời), trao đổi và lấy ý kiến của doanh nghiệp nằm trong KCN, người dân sống lân cận KCN Biên Hòa 1.

KCN Biên Hòa 1 nằm ven sông Đồng Nai thuộc phường An Bình, TP Biên Hòa (Đồng Nai) được hình thành trên khu kỹ nghệ Biên Hòa (thành lập từ năm 1963) trên diện tích khoảng 330 ha, là KCN được xây dựng sớm nhất ở Việt Nam. Trải qua gần 50 năm hoạt động, KCN Biên Hòa 1 đã hoàn thành vai trò lịch sử của mình đối với quá trình phát triển công nghiệp của tỉnh Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung.

Khi được chuyển đổi công năng, đến năm 2020, 330 ha KCN Biên Hòa 1 sẽ chuyển đổi thành khu đô thị - dịch vụ - thương mại sầm uất, xứng tầm với sự phát triển năng động của vùng kinh tế trọng điểm phía nam.

Di dời để cứu sông Đồng Nai

Sông Đồng Nai - nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho hơn 20 triệu dân ở TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu đang có dấu hiệu ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng. Theo đánh giá của Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên - Môi trường), chất lượng nước sông Đồng Nai đang xấu dần đi, có những đoạn “chết lâm sàng” vì ô nhiễm quá mức. Trong đó, KCN Biên Hòa 1 là một trong những tác nhân gây ô nhiễm lớn nhất.

Hiện nay, mỗi ngày, 97 doanh nghiệp đang hoạt động tại KCN Biên Hòa 1 xả ra hơn 9.000m3 nước thải. Trong số này, chỉ có 1.100m3 được đấu nối qua KCN Biên Hòa 2 để xử lý, 7.900m3 nước thải còn lại được các doanh nghiệp “tự xử lý” rồi xả trực tiếp ra sông Đồng Nai.

Qua kết quả quan tắc của Sở Tài nguyên - Môi trường Đồng Nai (đoạn tiếp giáp với KCN Biên Hòa 1) cho thấy, chất lượng nước sông Đồng Nai chưa đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt.

Cụ thể: chất lượng nước bị ô nhiễm do chất rắn lơ lửng, vi sinh, đặc trưng là hàm lượng DO, TSS, COD, Fe, E.Coli và Coliform vượt so với tiêu chuẩn cho phép. Ngoài ra, tổng lượng rác thải công nghiệp phát sinh của các doanh nghiệp trong KCN Biên Hòa 1 khoảng 5.346 tấn/tháng, trong đó, rác thải nguy hại 64 tấn/tháng.

Nguồn ô nhiễm từ khí thải cũng đang gióng lên hồi chuông báo động đỏ. Theo số liệu quan tắc quốc gia tại KCN Biên Hoà 1, nồng độ bụi dao động từ 0,42-0,55 mg/m3, trung bình 0,496 mg/m3 vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép; nồng độ SO2, NO2, CO cũng đang ở mức báo động.

Nguyên nhân dẫn đến nguồn ô nhiễm trên là do một số nhà máy trong KCN Biên Hòa 1 hiện nay vẫn đang kế thừa cơ sở vật chất của các nhà máy cũ trước 1975 với các thiết bị, công nghệ sản xuất cũ, lạc hậu, năng lực sản xuất yếu kém dẫn đến không có khả năng tài chính để đổi mới công nghệ. Đồng thời, hầu hết các nhà máy trong KCN Biên Hòa 1 đều không có hệ thống xử lý nước thải riêng và cũng khó có thể thực hiện việc tách riêng hệ thống nước mưa và hệ thống nước thải trong nội bộ nhà máy để đấu nối vào hệ thống nước thải chung của KCN. Điều này dẫn đến một lượng lớn nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất tại KCN Biên Hòa 1 được xả trực tiếp xuống sông Đồng Nai, gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng.

Nhiều ý kiến của các nhà quản lý, chuyên gia cho rằng, nếu tiếp tục duy trì hoạt động của KCN Biên Hòa 1 như hiện nay thì vấn đề ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm môi trường nước và môi trường không khí sẽ khó có khả năng giải quyết triệt để.

Bài toán di dời

Mặc dù đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương di dời KCN Biên Hòa 1, nhưng việc chuyển đổi công năng này chắc chắn sẽ gặp không ít khó khăn, nhất là việc di dời 104 doanh nghiệp (trong đó có 97 doanh nghiệp đang hoạt động) thu hút trên 26.100 lao động vào làm việc.

Tuy nhiên, để cứu lấy sông Đồng Nai, đồng thời là vì nguồn nước sạch cung cấp cho sản xuất, sinh hoạt cho hơn 20 triệu dân các tỉnh, thành trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, việc chuyển đổi công năng KCN Biên Hòa 1 là một nhu cầu bức thiết.

Tổng nguồn vốn để thực hiện chuyển đổi công năng KCN Biên Hòa 1 gần 15 nghìn tỷ đồng.

Để chuẩn bị cho việc triển khai đề án, tỉnh Đồng Nai đã tổ chức hai đợt khảo sát, đồng thời tổ chức đối thoại với các doanh nghiệp trong KCN Biên Hòa 1. Qua ghi nhận, những tâm tư nguyện vọng và những ý kiến đóng góp của doanh nghiệp, hầu hết các doanh nghiệp ủng hộ chủ trương di dời và cho rằng việc chuyển đổi công năng KCN Biên Hòa 1 là một xu thế phát triển phù hợp với giai đoạn hiện nay. Đồng thời, Đồng Nai cũng chuẩn bị chu đáo KCN Giang Điền thuộc xã Giang Điền, huyện Trảng Bom (Đồng Nai) - cách KCN Biên Hòa 1 khoảng 20km với quy mô 528 ha để di dời. Đồng thời, nếu các doanh nghiệp muốn di dời về các KCN Ông Kèo, Nhơn Trạch thuộc huyện Nhơn Trạch, KCN Long Thành, huyện Long Thành … trên địa bàn Đồng Nai cũng được tỉnh tạo điều thuận lợi nhất.

Theo đó, dự kiến lộ trình di dời chia làm ba giai đoạn, giai đoạn 1 (2012 - 2013) có 11 doanh nghiệp di dời; giai đoạn 2 (2014 - 2017) có 14 doanh nghiệp di dời; giai đoạn 3 (2018 - 2022) có 38 doanh nghiệp. Còn 12 doanh nghiệp chưa có ý kiến về thời gian di dời. Các doanh nghiệp di dời hỗ trợ các chi phí xây dựng nhà xưởng mới; chi phí tháo dỡ, vận chuyển và lắp đặt máy móc thiết bị đến địa điểm mới; chi phí tuyển dụng, đào tạo công nhân mới; tất cả chi phí thiệt hại do phải ngưng sản xuất trong thời gian di dời, bao gồm: chi phí chênh lệch do phải nhập khẩu sản phẩm giao cho khách hàng, hoặc tập trung sản xuất trước; chi phí bồi thường giải tỏa phải.

Về hỗ trợ cho người lao động, hỗ trợ tiền trợ cấp thôi việc đối với công nhân bị mất việc làm do không thể đến nơi làm việc mới; tiền lương cho công nhân bị ngưng việc trong thời gian di dời.

Ông Nguyễn Văn Lộc, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đường Biên Hòa (KCN Biên Hòa 1) cho rằng, khi một doanh nghiệp di dời đến một địa điểm khác là cả một vấn đề, thiệt hại là rất lớn. Về chủ trương di dời, doanh nghiệp ủng hộ, nhưng về chính sách hỗ trợ di dời cần được tính toán một cách đầy đủ như: địa điểm mới phải thuận lợi cho việc phát triển ngành nghề; giảm giá hoặc hỗ trợ tiền thuê đất, cơ sở hạ tầng và các chi phí khác; tạo điều kiện thuận lợi để công ty thực hiện thủ tục khi di dời; doanh nghiệp không thể đột xuất đóng cửa ngừng sản xuất nên việc di dời chỉ xảy ra khi doanh nghiệp phải xây dựng nhà xưởng mới, lắp đặt dây chuyền máy móc thiết bị mới và sản xuất ổn định thì mới di dời được…

Ông Phan Văn Bình, Giám đốc công ty cổ phần Nhất Nam (KCN Biên Hòa 1) cũng bày tỏ băn khoăn, di dời là chủ trương lớn, doanh nghiệp phải chấp hành, nhưng cần tính đến hiệu quả kinh tế, cũng như xã hội của dự án chuyển đổi công năng KCN Biên Hòa 1 thành khu đô thị - thương mại - dịch vụ hiện đại.

Việc chuyển đổi công năng KCN Biên hòa 1 là dự án quy mô lớn và chưa có tiền lệ, mang hiệu quả kinh tế xã hội rất lớn để Đồng Nai thực hiện thành công mục tiêu phát triển bền vững. Vì vậy, Đồng Nai kiến nghị Ủy ban Khoa học, Công nghệ - Môi trường của Quốc hội, Chính phủ cho phép thực hiện cơ chế hỗ trợ đặc thù, như: cho các doanh nghiệp được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp bốn năm, giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp trong chín năm tiếp theo kể từ khi các doanh nghiệp hoạt động có lợi nhuận; cho phép các doanh nghiệp di dời được giảm 100% thuế nhập khẩu đối với các máy móc thiết bị đầu tư cho nhà máy, cũng như nguyên liệu, sản phẩm trong thời gian di dời phải tạm ngưng sản xuất; về ưu đãi tín dụng, chủ đầu tư được ưu tiên vay vốn tín dụng ưu đãi của nhà nước và các quĩ đầu tư khác với lãi suất ưu đãi đáp ứng 50% nhu cầu vốn đầu tư…..

Làm việc với tỉnh Đồng Nai, các đại biểu trong đoàn khảo sát ủng hộ chủ trương phương án di dời KCN Biên Hòa 1 của tỉnh Đồng Nai, đồng thời lưu ý, địa phương phải tính toán chi tiết đến hiệu quả khi chuyển đổi công năng; cần dành quỹ đất để làm nhà ở cho người lao động trong Khu đô thị - thương mại - dịch vụ; khi các doanh nghiệp chuyển đến KCN Giang Điền cần nâng cấp khu xử lý hệ thống nước thải tập trung để tránh gây ô nhiễm môi trường…

Xây dựng Cảng Hàng không quốc tế Long Thành là cần thiết

Nếu không triển khai xây dựng dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành sẽ không đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong thời gian tới cũng như tiến độ chiến lược phát triển giao thông hàng không đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.




Phối cảnh Cảng HK Long Thành. Ảnh VGP/Quỳnh Hoa


Đây là nhận định chung của các đại biểu về dự hổi thảo góp ý Báo cáo đầu tư xây dựng Dự án Cảng Hàng không quốc tế Long Thành tổ chức sáng nay (8/7).



Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tại Quyết định sô 703/QĐ-TTG ngày 20/7/2005. Dự án nằm trên diện tích khoảng 25.000 ha thuộc địa bàn 6 xã tỉnh Đồng Nai.

Theo quy hoạch, quá trình xây dựng sẽ chia làm 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 (2014 - 2020), Long Thành sẽ có công suất 25 triệu khách mỗi năm với 2 đường cất hạ cánh. Giai đoạn 2 (2020 - 2030) sẽ có công suất 50 triệu hành khách và giai đoạn 3 (sau năm 2030) sẽ lên 100 triệu hành khách mỗi năm với 4 đường bay.

Theo đó, tổng mức đầu tư cho giai đoạn một của dự án ước tính hơn 5,6 tỷ USD. Nếu phương án rút gọn bao gồm chỉ xây dựng 1 đường băng và nhà ga thì mức đầu tư khoảng 4 tỷ USD. Trong đó, vốn Nhà nước và ODA chiếm khoảng 53%, còn lại là tư nhân. Để triển khai dự án giai đoạn 1 cần 5.000 ha đất trong đó 65% chủ yếu là rừng cao su 35%, khoảng 1.025 hộ dân bị ảnh hưởng.

Theo Chủ tịch HĐTV Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam Nguyễn Nguyên Hùng: Trong 10 năm qua tốc độ tăng trưởng của hàng không nội địa trên 20%/ năm, lượng khách quốc tế tăng 15%/năm. 

Theo thiết kế, đến năm 2018-2020 Cảng hàng không Tân Sơn Nhất sẽ đạt công suất thiết kế 25 triệu hành khách/năm, 600 ngàn tấn hàng hoá. Dự báo đến năm 2030 lượng hành khách qua cảng này là 44 triệu hành khách và 1,2 triệu tấn hàng hoá, như vậy Cảng HK Tân Sơn Nhất sẽ bị quá tải. Để nâng công suất phục vụ được như dự báo do vậy phải xây dựng cảng hàng không mới hoặc mở rộng Tân Sơn Nhất.

Tuy nhiên, nếu mở rộng Tân Sơn Nhất phải mở về hướng bắc thêm một đường cất cánh, để làm được việc này cần khoảng 350 ha đất và cũng chỉ nâng công suất phục vụ được 50 triệu hành khách, còn với quy mô trên 50 triệu là không đáp ứng được.

Mặt khác nếu xây dựng dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành, nếu tính chi phí thu hồi 5.000 ha đất của dự án mất 7,8 tỷ USD, trong khi nếu mở rộng Tân Sơn Nhất chi phí thu hồi đất mất 9,1 tỷ USD.

Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, các cảng hàng không lớn đều nằm cách trung tâm thành phố từ 15-60 km. Với tiêu chí khoảng cách 60km tính từ trung tâm TP Hồ Chí Minh, vị trí quy hoạch Cảng Hàng không Long Thành tại Huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai đảm bảo phù hợp với tiêu chí khoảng cách về thời gian vận chuyển hàng hoá, hành khách đi đến TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.

Ông Lại Xuân Thanh, Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam cho biết: Công việc quan trọng trước tiên của dự án này là Bộ Giao thông vận tải phải hoàn thiện đề án trình Chính phủ để Chính phủ trình Quốc hội thông qua về mặt chủ trương vào tháng 10 này .

Theo đánh giá của Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam việc đầu tư xây sân bay Long Thành được cho là khả thi, tỷ suất hoàn vốn dự án khoảng 22,1%, cao hơn mức tiêu chuẩn cho các công trình công cộng tại Việt Nam từ 10% đến 12%.

Tuy vậy, các đại biểu cũng góp ý nên cân nhắc đến gánh nặng nợ nước ngoài. Với tổng thể dự án được đánh giá hiệu quả đối với nền kinh tế, nhưng theo các đại biểu tại hội thảo trong từng hạng mục như nhà ga hành khách, bãi đậu ôtô nên kêu gọi đầu tư tư nhân. Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Cảng hàng không kiến nghị Chính phủ cần xem xét các chính sách đặc biệt như bảo đảm chuyển đổi ngoại tệ, bảo đảm độc quyền, ưu đãi thuế...



Quỳnh Hoa

Đồng Nai: con rồng đang tỉnh giấc


Đồng Nai được đánh giá sẽ trở thành một trong những trọng điểm kinh tế tầm cỡ của nước ta và là điểm đầu tư hấp dẫn đối với nhà đầu tư bất động sản trong thời gian tới nhờ hạ tầng giao thông đang hoàn thiện và những chủ trương qui hoạch mới.

Điểm nhấn về quy hoạch

Mới đây, tỉnh Đồng Nai đã công bố quy hoạch và lấy ý kiến các ngành chức năng về các khu dân cư, khu đô thị, cụm công nghiệp, bệnh viện quốc tế, khu nghỉ dưỡng... với diện tích 21.000 héc-ta xung quanh khu vực Sân bay quốc tế Long Thành. Theo đó, ngoài các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phục vụ mua bán, vận chuyển hàng hóa, nơi này sẽ hình thành các trung tâm đào tạo - nghiên cứu, dịch vụ y tế - giáo dục - thể thao và nghỉ dưỡng mang đẳng cấp quốc tế. Dự kiến, đến năm 2020, khi sân bay quốc tế Long Thành đi vào hoạt động giai đoạn 1, sẽ có 40 - 50% lực lượng lao động trong khu vực phục vụ ở Sân bay.

Bên cạnh đó, UBND tỉnh Đồng Nai cũng vừa tổ chức họp bàn về việc lấy ý kiến cho Đề án xây dựng trung tâm hành chính - chính trị mới của tỉnh. Theo Sở Xây dựng, trung tâm hành chính mới sẽ nằm ở khu trung tâm Đô thị mới Tam Phước (TP. Biên Hòa), có diện tích khoảng 340 ha, tiếp cận các trục giao thông như Quốc lộ 51, đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, đường cao tốc Tp.HCM - Long Thành - Dầu Giây và Cảng hàng không quốc tế Long Thành.
Khu đô thị sinh thái Green Life City

Để giảm tải áp lực giao thông qua đoạn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã cho xây dựng tuyến tránh Tp. Biên Hòa. Sau 3 năm thi công, nay tuyến đường này đang chuẩn bị gấp rút hoàn thành và sẽ thông xe vào cuối năm nay. Ngoài ra tuyến giao thông kết nối liên vùng - Cao tốc Long Thành Dầu Giây cũng đang trong giai đoạn hoàn thiện và sẽ thông xe vào năm 2014. Đây là những lý do rõ nét nhất giúp thị trường bất động sản Đồng Nai sáng lên.

Theo Công ty Nghiên cứu bất động sản VietRees, một trong những nguyên nhân giúp Đồng Nai trở thành điểm đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư bất động sản là hệ thống hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện. Nằm ở đầu mối giao thông của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Đồng Nai đang có nhiều thuận lợi cả về đường bộ, đường thủy, đường sắt và đường hàng không. Theo quy hoạch đến năm 2020, hàng loạt hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh được nâng cấp, mở rộng và đầu tư mới như đường cao tốc nối Tp.HCM với Bà Rịa - Vũng Tàu, tuyến đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu, kế hoạch nối mạng đường sắt Singapore - Côn Minh (Trung Quốc) có 50 km chạy qua địa phận Đồng Nai, đường cao tốc Long Thành - Biên Hòa - Dầu Giây... Đặc biệt là Dự án Sân bay quốc tế Long Thành và hàng loạt công trình được quy hoạch đồng bộ, trở thành những khu đô thị kiểu mẫu hứa hẹn sẽ làm thay đổi diện mạo của Đồng Nai và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nơi đây.

Đón đầu cơ hội

Nắm bắt trước nhu cầu nhà ở và đầu tư của người dân trong thời gian tới, một số doanh nghiệp đang tung ra rất nhiều dự án với những chính sách bán hàng vô cùng linh hoạt cũng như những chương trình khuyến mãi cực sốc. Điển hình như công ty cổ phần Địa ốc Kim Oanh, vào ngày 8/7/213 đã triển khai mở bán dự án khu đô thị sinh thái Green Life City với qui mô 25.9ha nằm trong tổng thể qui hoạch khu đô thị công nghệ Giang Điền 1000ha. Dự án được tung trong giai đoạn này với 350 nền nhà phố, biệt thự với chương trình khuyễn mãi trước đây chỉ thấy ở những mặt hàng tiêu dùng - MUA MỘT NỀN TẶNG NGAY 1 NỀN. 


Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More