Thực trạng đô thị hóa ở tỉnh Đồng Nai

Đồng Nai có vị trí, địa hình thuận lợi ở nhiều mặt, nằm giao thoa giữa cao nguyên trung bộ và đồng bằng bắc nam bộ, phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, Tây bắc giáp tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Tây giáp TP.Hồ Chí Minh, Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có quốc lộ tiếp giáp đến các đô thị trong khu vực, đường sắt xuyên việt qua địa bàn Đồng Nai dài 85km. Sân bay Tân Sơn Nhất và sân bay quân sự Biên Hòa là cầu hàng không thường trực, với vị trí trên Đồng Nai là nút giao thông giao lưu kinh tế xã hội trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam.


1. Thực trạng kinh tế của Đồng Nai.

Theo các phân tích và các quy hoạch ở tầm quốc gia, vùng kinh tế trọng điểm phía nam đặc biệt là Đồng Nai có các điều kiện hết sức thuận lợi để thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, xây dựng các đô thị có quy mô tầm cỡ khu vực và thế giới. Trong khu vực này địa bàn Tây - Nam Đồng Nai (gồm thành phố Biên Hòa và các huyện Nhơn Trạch và Long Thành) là khu vực được xem cửa mở phía Đông của TP. Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía nam và là khu vực thuận lợi nhất để phát triển công nghiệp và đô thị.

Đồng Nai là Tỉnh nằm trong vùng trọng điểm phát triển kinh tế của đất nước, đảm đương nhiểu yêu tố và chức năng cho phát triển trong vùng thành phố Hồ Chí Minh. Với 23 khu công nghiệp và 15 cụm công nghiệp, Đồng Nai là tỉnh đi đầu trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế (61% công nghiệp, 29% dịch vụ, 7% nông nghiệp), tăng trưởng công nghiệp tăng 36%/năm, tăng trưởng GDP đạt 14,3%. là một trong 10 tỉnh - thành phố có đông dân cư nhất (>2 triệu), là tỉnh có dân cư đô thị cao nhất (chỉ sau thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội - tỉ lệ đô thị hóa trên > 37%), dân số đo thị tăng trưởng cao (60% trong 10 năm)

Cùng với sự phát triển các ngành kinh tế thuộc các thành phần kinh tế trong nước giải quyết thêm hàng ngàn lao động khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh thu hút được lượng lao động hùng hậu. Khi có Luật Đầu tư nước ngoàinăm 1989, Đồng Nai đã mở cửa, kết quả là có hàng loạt các dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép số dự án đến năm 2005 cso 707 dự án vốn đầu tư = 8.049 tỷ USD (Đồng Nai trở thành tỉnh thứ 3 sau TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội) về thu hút đầu tư nước ngoài đến nay có 467 dự án đi vào hoạt động giải quyết việc làm cho 200 ngàn lao động.

Đến giữa tháng 9/2007, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Đồng Nai là 9,93 tỷ USD. Riêng từ đầu năm 2007, tổng vốn đầu tư là 920 triệu USD, tăng 32% so với cùng kỳ năm trước. Đồng Nai đang dẫn đầu cả nước về các dự án FDI về các ngành nông nghiệp.

Công nghiệp phát triển không những tạo thêm việc làm cho người lao động hạn chế tình trạng thất nghiệp mà còn làm tăng thêm nguồn thu về cho ngân sách nhà nước. Những năm đầu 1990 Công nghiệp chiếm 25% tổng thu ngân sách đến các năm sau tăng bình quân mỗi năm 20%.

Hiện Đồng Nai đã hoàn thành quy hoạch tổng thể 34 khu Công nghiệp với tổng diện tích 11.189 ha, trong đó có 19 khu Công nghiệp được Chính phủ phê duyệt, diện tích bằng 5.377ha về cơ sở hạ tầng do 7 Doanh nghiệp đầu tư trong đó có 2 doanh nghiệp nước ngoài. Tổng vốn đầu tư hạt ầng 62 triệu USD, kết quả hiện có 5 khu Công nghiệp có cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh (Khu công nghiệp Biên Hòa 2, Amata, Lotecco, Nhơn Trạch 1 và Gò Dầu)

Trên cơ sở phát triển khu công nghiệp cũng góp phần hình thành các khu đô thị hóa trên toàn tỉnh Đồng Nai

2. Thực trạng quản lý sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Hiện nay, do yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà nước cần lấy đi một phần đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới và xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế chung của đất nước. Đó là một yêu cầu khách quan và còn có xu hướng phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, việc lấy đất nông nghiệp để phát triển các khu công nghiệp, các khu đô thị mới đã làm xuất hiện việc nhiều hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất. Kết quả của một nghiên cứu cho thấy, trong thời gian 5 năm (1995 - 2000) đã vó 400.000 ha đất nông nghiệp được chuyển sang mục đích sử dụng khác, trong đó chuyển sang đất chuyên dùng là 96.780 ha, chiếm 24,19% tổng diện tích đất nông nghiệp thực giảm.

Theo Hội Nông dân Việt Nam, trong quá trình xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, cơ sở hạ tầng, mỗi năm cả nước có gần 200.000ha đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng, tương ứng mỗi hộ có khoảng 1,5 lao động mất việc làm. Năm 2001, thành phố Hà Nội thu hồi 733 ha cho 159 dự án; năm 2002 lấy 1.003 ha cho 194 dự án; năm 2003 lấy 1.424 ha cho 260 dự án và năm vừa qua ước thu hồi 1.980 ha cho 280 dự án. Cùng với số đất bị thu hồi, tình trạng nông dân không có việc làm trở nên bức xúc ơn bao giừo hết. Bình quân mỗi năm có khoảng 13-15 nghìn lao động không có việc làm, phần lớn lại chưa qua đào tạo nghề.

Như vậy, nếu tính bình quân một hộ nông dân có khoảng 0,6 ha đất nông nghiệp (trong tổng số 7 triệu hec-ta đất nông nghiệp của 11 triệu hộ nông dân trên cả nước), thì sẽ làm giảm 96.000 ha đất nông nghiệp khi chuyển sang mục đích xây dựng và đồng thời có khoảng 161.300 hộ nông dân không có đất nông nghiệp để sản xuất. Cho dù Nhà nước đã có chính sách đền bù cho các hộ bị lấy đất, song trong thực tế, khung giá đất nông nghiệp đã được Nhà nước quy định rất thấp, còn giá các loại đất chuyên dùng lại rất cao, việc thực hiện chính sách giải tỏa, đền bù chưa được giải quyết một cách thỏa đáng nên người dân chưa thực sự sẵn sàng trả lại đất, thậm chí còn phản đối, khiếu kiện hết sức phức tạp. Thu hồi đất và bồi thường đất là nguyên nhân của trên 70% số đơn kiện hiện nay. Điều này đã được nhiều người nhắc tới mà nguyên nhân cốt lõi chính là ở cách tính giá trị đất thu hồi.

Theo báo cáo đánh giá các nguồn tài nguyên và hiện trạng khai thác, sử dụng của Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai, từ năm 2001 đến 2006, đã có trên 112.000 hộ gia đình, các nhân trong tỉnh đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ), nâng tổng số Giấy CNQSDĐ lên 375.412 hộ, đạt tỷlệ gần 98% số hộ dân ở khu vực nông thôn và 66,5% số hộ ở khu vực đô thị. Đồng thời, đã có khoảng 2.000 dự án đầu tư, với tổng diện tích 25.116 ha được giao, cho thuê và chuyển mục đích sử dụng đất. Công tác triển khai đo đạc lập bản đồ địa chính chính quy đã được thực hiện ở 40 xã, phường, thị trấn với diện tích gần 130.000 ha.

3. Thực trạng công tác quy hoạch đô thị trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

a. Những kết quả đã đạt được

* Thành phố Biên Hòa - đô thị loại II: Thành phố Biên Hòa được phê duyệt quy hoạch chung lần đầu vào năm 1993 và lập điều chỉnh quy hoạch chung lần 1 vào năm 2003. Theo định hướng quy hoạch xây dựng chung tổng thể thành phố đến năm 2020 với tổng diện tích tự nhiên 154,66km2. Quy mô dân số dự kiến đến năm 2010 đạt khoảng 645.000 người, đến năm 2020 là 830.000 người (trong đó dân số nội thị chiếm khoảng 800.000 người). TP. Biên Hòa được chia thành 23 phường và 03 xã đã được lập quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/2000, hiện đang lập điều chỉnh quy hoạch chung và tình hình thực tế phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương.

Thành phố Biên Hòa được xác định là trung tâm hành chính tỉnh lỵ với chức năng là 1 trong 4 đô thị hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là trung tâm công nghiệp, dịch vụ với các điều kiện thuận lợi về giao thông đầu mối của quốc gia.

* Thành phố mới Nhơn Trạch (định hướng đô thị loại II vào năm 2020): Thành phố mới Nhơn Trạch được phê duyệt quy hoạch xây dựng chung vào năm 1996 và phê duyệt điều chỉnh quy hoạch lần 1 vào năm 2006. Quy hoạch điều chỉnh đã xác định tổng diện tích tự nhiên 410,89 km2, dân số dự kiến đến năm 2010 là 150.000 người, đến năm 2020 khoảng 600.000 người (trong đó dân số nội thị chiếm khoảng 450.000 người). Là đô thị mới với chức năng là một trong các trung tâm công nghiệp - thương mại, dịch vụ - du lịch, giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ của tỉnh Đồng Nai; Đồng thời là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải và có vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng của vùng trọng điểm phía Nam.

Hiện tại huyện Nhơn Trạch đã lập quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/2000 cho các khu trung tâm huyện 347 ha, KCN Nhơn Trạch 2700 ha, KCN Ông Kèo 800 ha, cụm công nghiệp địa phương 100 ha và hàng trăm dự án phát triển đô thị gắn với các nhà đầu tư cụ thể đã được lập quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500. Song song với lập quy hoạch chi tiết các dự án phát triển đô thị, việc lập quy hoạch chung ở địa bàn các xã cũng đang tiến hành thực hiện, nhằm đảm bảo gắn kết đồng bộ kết cầu hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch chung đô thị mới Nhơn Trạch đã được phê duyệt.

* Thị xã Long Khánh - đô thị loại IV: Được thành lập từ năm 2003 theo Nghị định số 97/2003/NĐ.CP ngày 21/18/2003 của Chính phủ trên cơ sở thị trấn Xuân Lộc cũ và một số xã thuộc huyện Long Khánh cũ. Thị trấn Xuân Lộc trước đây đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/2000 khu dân cư trung tâm thị trấn vào năm 1993. Hiện nay đã lập xong quy hoạch chugn xây dựng thị xã Long Khánh định hướng đến năm 2020. Theo định hướng quy hoạch, thị xã Long Khánh được xác định là trung tâm hành chính, kinh tế văn hóa thuộc tiểu vùng phí Đông của tỉnh Đồng Nai. Với diện tịch tự nhiên khoảng 195 km2 được chia thành 6 phường nội ô và 9 xã. Quy mô dân số vào năm 2010 đạt khoảng 78.000 người và năm 2020 đạt 145.000 người (trong đó dân số nội thị khoảng 90.000 người). Nhằm đáp ứng các cơ hội đầu tư trên địa bàn thị xã, các quy hoạch chi tiết khu dân cư đô thị, trung tâm dịch vụ thương mại... đã được quan tâm thực hiện.

* Các trung tâm huyện lỵ.

- Thị trấn Long Thành (đô thị loại V): năm 1994 đã phê duyệt quy hoạch chung xây dựng thị trấn Long Thành giai đoạn 1994 - 2010. Hiện nay đang lập điều chỉnh và mở rộng quy hoạch chung xây dựng thị trấn Long Thành cho giai đoạn 2010 - 2020 với tổng diện tích tự nhiên toàn thị trấn là 928,36 ha. Định hướng quy hoạch xác định thị trấn Long Thành là trung tâm hành chính, dịch vụ công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của huyện Long Thành. Quy hoạch chi tiết tỉlệ 1/2000 và 1/500 các khu chức năng của thị trấn cần được triển khai, tạo cơ sở cho công tác định hướng đầu tư xây dựng trên địa bàn.

- Thị trấn Trảng Bom (đô thị loại V): năm 1993 đã được phê duyệt quy hoạch xây dựng chung thị trấn Trảng Bom cho giai đoạn 1993 - 2020. Hiện nay đang lập điều chỉnh quy hoạch chung cho giai đoạn 2010 - 2020 với tổng diện tích tự nhiên toàn thị trấn là 977,88 ha. Định hướng quy hoạch xác định thị trấn Trảng Bom là trung tâm hành chính, dịch vụ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của huyện Trảng Bom. Khu vực trung tâm thị trấn cũng đã lập quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/2000, quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 các dự án gắn với nhà đầu tư cụ thể như: Khu dân cư phía bắc và phía nam quốc lộ 1A, khu dân cư 55 ha đã được thực hiện đầu tư xây dựng.

- Thị trấn Tân Phú (đô thị loại V): năm 1996 đã được phê duyệt quy hoạch xây dựng chung thị trấn Tân Phú cho giai đoạn 1996 - 2010. Hiện nay đang lập điều chỉnh quy hoạch cho giai đoạn 2010 - 2020 với tổng diện tích tự nhiên tòan thị trấn là 805,79ha. Định hướng quy hoạch xác định thị trấn Tân Phú là trung tâm hành chính, dịch vụ tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ du lịch của huyện Tân Phú. Khu dân cư dọc đường tà Lài khoảng 120ha, khu chợ và phố chợ khoảng 3ha phía nam thị trấn, KCN Tân Phú 50ha đã được phê duyệt và đang thực hiện đầu tư xây dựng.

- Thị trấn Định Quán (đô thị loại V): năm 1996 đã được phê duyệt quy hoạch xây dựng chung thị trấn Định Quán cho giai đoạn 1996 - 2010. Hiện nay đang lập điều chỉnh quy hoạch cho giai đoạn 2010 - 2020 với tổng diện tích tự nhiên toàn thị trấn là 1006,79ha. Định hướng quy hoạch xác định thị trấn Định Hướng là trung tâm hành chính, dịch vụ tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ du lịch của huyện Định Quán.

- Thị trấn Gia Ray - huyện Xuân Lộc (đô thị loại V): năm 1999 đã được phê duyệt quy hoạch xây dựng chi tiết tỉlệ 1/2000 thị trấn Gia Ray cho giai đoạn 1999 - 2005 và định hướng đến năm 2010 với quy mô diện tích 250ha. Hiện nay đang lập điều chỉnh quy hoạch giai đoạn 2010 - 2020 với tổng diện tích tự nhiên toàn thị trấn là 1385,61ha. Định hướng quy hoạch xác định thị trấn Định Hướng là trung tâm hành chính, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ du lịch của huyện Xuân Lộc.

- Thị trấn Vĩnh An - huyện Vĩnh Cữu (đô thị loại V): năm 1997 đã được phê duyệt quy hoạch xây dựng chung thị trấn Vĩnh An cho giai đoạn 1997 - 2005 và định hướng đến 2010 với quy mô diện tích 410ha. Hiện nay đang lập điều chỉnh quy hoạch chung cho giai đoạn 2010 - 2020 với tổng diện tích tự nhiên toàn thị trấn 244ha. Định hướng quy hoạch xác định thị trấn Vĩnh An là trung tâm hành chính, dịch vụ du lịch, an ninh quốc phòng của huyện Vĩnh Cữu. Khu vực trung tâm thị trấn cũng đã lập quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/2000, quy hoạch chi tiết tỉlệ 1/5000 khu hành chính huyện, trung tâm văn hóa - TDTT huyện đã được thực hiện đầu tư xây dựng.

- Đô thị Dầu giây huyện Trảng Bom: năm 2001 đã được phê duyệt quy hoạch xây dựng chung đô thị Dầu Giây cho giai đoạn 2001 - 2005 và định hướng đến năm 2010 với quy mô diện tích 601,8ha. Định hướng quy hoạch xác định đô thị Dầu Giây là trung tâm hành chính cấp huyện, với vai trò đô thị dịch vụ thương mại tổng hợp và là cửa ngõ giao thông trung chuyển giữa khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Khu vực trung tâm xung quanh ngã ba Dầu Giây đã lập quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/2000, quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 khu hành chính huyện, trung tâm văn hóa - TDTT huyện và các khu dân cư A1, B1, C1, khu dân cư Xóm Hố với tổng diện tích khoảng 300ha... đã được phê duyệt đang thực hiện đầu tư xây dựng.

- Trung tâm hành chính huyện Cẩm Mỹ: năm 2004 đã được phê duyệt quy hoạch xây dựng chung đô thị trung tâm huyện mới thành lập cho giai đoạn 2005 - 2010 và định hướng đến năm 2020 với quy mô diện tích 600ha. Định hướng quy hoạch xác định đô thị là trung tâm hành chính cấp huyện, hình thành trung tâm dịch vụ vùng công - nông nghiệp góp phần hình thành mạng lưới đô thị - dân cư tập trung phía đông của tỉnh.

b. Những tồn tại - khó khăn

Công tác lập và xét duyệt quy hoạch xây dựng (QHXD): theo quy định thì phải lập QHXD theo thứ tự: QHXD vùng tỉnh - QHXD vùng huyện - QHXD chung các đô thị chức năng - QHXD chi tiết tỉ lệ 1/2000 các khu trung tâm đô thị và sau cùng là QHXD chi tiết 1/500 cho các dự án gắn với Chủ đầu tư cụ thể. Tuy nhiên, do điều kiện khách quan nên quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch chung chưa thể thực hiện trước một bước. Việc này đã gây khó khăn trong việc định hướng kết nối hệ thống hạ tầng kỹ thuật tổ chức hạ tầng xã hội và không gian đô thị đồng bộ, dẫn đến hệ quả của việc đầu tư phát triển đô thị còn phân tán, chưa tập trung theo chức năng của đô thị.

Quá trình đầu tư phát triển các dự án xây dựng thời gian qua trên địa bàn tỉnh đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết trong việc đấu nối hệ thống hạ tầng kỹ thuật như giao thông, thoát nước mưa và xử lý nước thải... do việc đầu tư các dự án hạ tầng chưa tập trung, chia thành nhiều giai đoạn, chưa quan tâm nhiều đến kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, đã ít nhiều có ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và môi trường đô thị.

Công tác bồi thường, giải tỏa còn chậm, vướng mắc nhiều cơ chế trong việc tái định cư. Quỹ nhà ở phục vụ cho công tác tái định cư chưa được thực hiện đồng bộ và thực hiện trước một bước.

Quy hoạch xây dựng đã làm được nhiều nhưng chất lượng giá trị tương lai nhìn chung vẫn còn yếu, chưa thật sự bám sát nhu cầu thực tế và biến động của thị trường, thiếu sự tham gia của cộng đồng dân cư. Vốn đầu tư cho quy hoạch xây dựng còn khá mỏng, kéo dài thời gian nghiên cứu, trình độ cán bộ quản lý chuyên môn còn thiếu kinh nghiệm.

Việc công bố công khai quy hoạch xây dựng đã được triển khai thực hiện nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu cụ thể của người dân trong vùng quy hoạch.

Việc chuyển các mốc giới quy hoạch ra ngoài thực địa chưa được triển khai đồng bộ và số lượng còn ít do thiếu kinh nghiệm thực hiện.

Việc giới thiệu đị điểm đầu tư và cấp giấy phép xây dựng đã có những kết quả nhất định nhưng nhìn chung tình trạng xây dựng nhà ở riêng lẻ còn tự phát, lộn xộn, không tuân thủ quy hoạch xây dựng. Các dự án được giới thiệu địa điểm chưa triển khai đầu tư xây dựng theo đúng kế hoạch do việc giải phóng mặt bằng chưa đáp ứng kịp thời./.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More