Xin nới rộng cửa cho người nước ngoài mua nhà

Hiệp hội Bất động sản TPHCM (Horea) vừa có văn bản gửi UBND TPHCM và các cơ quan liên quan kiến nghị nới rộng cửa cho người nước ngoài mua nhà tại Việt Nam để tăng cầu, góp phần làm hồi phục thị trường bất động sản

Theo quy định hiện hành, người nước ngoài đang làm việc, hoạt động tại Việt Nam được phép sở hữu một căn hộ chung cư trong các dự án phát triển nhà ở thương mại thời hạn tối đa 50 năm với điều kiện “phải có thẻ thường trú, thẻ tạm trú hoặc giấy tờ chứng nhận được phép cư trú tại Việt Nam từ 12 tháng trở lên…”. Các quy định này đã làm hạn chế số người nước ngoài đủ điều kiện mua căn hộ, do vậy cần nới rộng cửa để họ mua nhà dễ dàng hơn.

Ngoài ra, Horea cũng kiến nghị cho phép thế chấp bất động sản tại ngân hàng nước ngoài nhưng việc xử lý những trường hợp phát mãi bất động sản phải tuân theo quy định pháp luật Việt Nam.

Cụ thể, quy định hiện hành chỉ mới cho phép các đối tượng sử dụng đất được thế chấp quyền sử dụng đất hoặc tài sản đầu tư trên đất để vay vốn của tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam.

Hiện chưa có các quy định về thế chấp bằng quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại nước ngoài để vay vốn hoặc để thực hiện các dự án liên doanh hợp tác đầu tư tại Việt Nam. Điều này đã làm hạn chế kênh huy động vốn từ nước ngoài đầu tư vào thị trường bất động sản.
 Theo Người Lao Động

Giải pháp vốn cho doanh nghiệp BĐS



Trước bối cảnh thị trường bất động sản (BĐS) có dấu hiệu suy giảm, các doanh nghiệp BĐS gặp nhiều khó khăn, cuối tuần qua, tại TPHCM đã diễn ra hội thảo “Vực dậy nguồn lực BĐS” nhằm tìm giải pháp chia sẻ khó khăn, khôi phục thị trường.



PV đã trao đổi với ông Từ Tiến Phát, Phó Giám đốc khối khách hàng cá nhân Ngân hàng Á Châu (ACB), xoay quanh vấn đề này. Ông Phát cho biết:

Từ năm 2008 đến nay khi thị trường BĐS gặp khó khăn, nhu cầu tiêu thụ nhà giá rẻ vẫn tồn tại (phân khúc giá căn hộ 12-18 triệu đồng/m2). Trong khi một bộ phận lớn giới đầu cơ tập trung nguồn tài chính (tiền nhàn rỗi, vốn vay, tiền kinh doanh…) để đầu tư BĐS, mua bán lòng vòng do có tỷ suất sinh lời cao.

Bong bóng BĐS bể do mua bán lòng vòng, người mua cuối cùng chịu thiệt vì không bán được. Hơn nữa, người dân vẫn coi BĐS là kênh đầu tư ngắn hạn, đặc biệt người dân ở TPHCM chủ yếu đầu tư vào các thị trường xung quanh (Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Bà Rịa-Vũng Tàu…).

Các công ty BĐS lập ra để làm dự án hầu hết chỉ tiêu thụ trong ngắn hạn mà không tính đến yếu tố cung cầu của thị trường. Khi nền kinh tế gặp khó khăn do lạm phát, lãi suất cao, đa số người dân chọn phương án tiếp tục sống chung với gia đình hay ở nhà cho thuê (đối với người nhập cư) thay vì trả lãi suất cao để vay tiền mua nhà. Như vậy, lúc này BĐS không còn là một kênh đầu tư sinh lời mà thuần túy phục vụ chức năng để ở.

- Với nhận diện “căn bệnh” hiện tại của thị trường BĐS như vậy, theo ông liệu doanh nghiệp BĐS có tiếp cận được nguồn vốn giá rẻ để phục hồi thị trường và cứu chính mình hay không?

- Thực tế hiện nay các NHTM dù đang trong tình trạng dư thừa vốn nhưng vẫn chưa có ý định “mở cửa” rót vốn cho doanh nghiệp BĐS và lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp BĐS vẫn duy trì mức khá cao.

Hiện tại nguồn cung căn hộ/đất nền tăng cao vượt xa mức cầu, trong đó rất nhiều nhà đầu tư cá nhân không đủ khả năng trả nợ ngân hàng buộc phải bán tháo để trả nợ. Xu hướng này sẽ tiếp tục tăng do tình hình nợ xấu của các NHTM đang tăng nhanh.

Ngoài ra, sự cạnh tranh trực tiếp từ nguồn cung BĐS nhà phố tại khu dân cư hiện hữu cũng gia tăng mạnh vì lý do “siết nợ” của các NHTM. Với quy định chặt chẽ của NHNN như tính dư nợ tín dụng gồm cả trái phiếu doanh nghiệp… khiến cho hạn chế khả năng huy động vốn của doanh nghiệp BĐS thông qua phát hành trái phiếu.

- Những chính sách tài chính tiền tệ gần đây của NHNN có tác động hỗ trợ gì cho thị trường BĐS không thưa ông?

- Vừa qua NHNN có chính sách cho cơ cấu nợ đã góp phần làm giảm áp lực tài chính cho doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp BĐS. Nếu trước đây doanh nghiệp tới hạn trả nợ cho ngân hàng, trước áp lực trả nợ phải bán tháo dự án của mình, nay khi được cơ cấu lại nợ doanh nghiệp có thể “thong thả” tìm đầu ra tốt hơn.

Ngoài ra, hiện nay do thừa vốn, các NHTM đang đẩy mạnh cho vay đối với khách hàng cá nhân có nhu cầu mua nhà đất. Cuộc đua giảm lãi suất và nới lỏng điều kiện cấp tín dụng BĐS đang diễn ra rất sôi động. Lãi suất cho vay đã giảm 5% chỉ trong vòng 3 tháng. Hiện nay phổ biến ở mức 15-16%/năm.

Việc nới lỏng tín dụng từ phía ngân hàng sẽ tác động rất tốt đến thị trường BĐS, trước hết là tác động tâm lý. Bên cạnh đó, lãi suất tiền gửi giảm nhanh sẽ tạo sức cầu tốt cho thị trường BĐS.

Còn một số tín hiệu tích cực khác như các thị trường vàng, ngoại tệ bị quản lý chặt tạo điều kiện dòng vốn đổ vào BĐS; nhu cầu mua sỉ của các tổ chức để tạo quỹ nhà ở phúc lợi cho nhân viên nhằm củng cố nguồn lực có chất lượng hay sự liên kết giữa ngân hàng và các công ty BĐS ngày càng chặt chẽ.

Như vậy, có rất nhiều tín hiệu tích cực cho thị trường BĐS, từ đó hy vọng thị trường sẽ sớm phục hồi, có thể từ cuối năm 2012. Các chính sách tiền tệ đang hỗ trợ tích cực cho thị trường, hiện nay chỉ còn phụ thuộc “giá nào” để kéo người có nhu cầu mua nhà ở thật sự chấp nhận mua.

- Vậy theo ông, giải pháp nào cho doanh nghiệp để khai thông đầu ra cho thị trường BĐS?

- Bơm tiền vào thị trường BĐS chỉ là giải pháp tạm thời để giải quyết khó khăn cho một số doanh nghiệp. Tuy nhiên, để thị trường BĐS phát triển ổn định và bền vững cần phải cơ cấu lại nguồn hàng trên thị trường, hướng vào nhu cầu thực của người dân mới là giải pháp lâu dài.

Như sản phẩm không bán được do lớn (về diện tích), giá cao phải chia nhỏ ra để phù hợp với nhu cầu thực sự về nhà ở của thị trường và khả năng thanh toán của người dân. Hiện nay, căn hộ nhỏ 30-50m2 phù hợp với nhu cầu của thị trường vào lúc này.

Do vậy, cần có định hướng của Nhà nước cho các dự án xây dựng căn hộ có diện tích nhỏ. Việc làm căn hộ nhỏ sẽ mở lối ra cho thị trường BĐS. Có thể thấy phân khúc nhà giá rẻ vẫn có thị trường trong những năm gần đây. Dự báo từ đầu quý III-2012 thị trường nhà ở giá rẻ sẽ phục hồi.

Các doanh nghiệp nên tăng cường liên kết với các NHTM để đưa ra các chương trình ưu đãi về giá và lãi suất cho khách hàng. Đồng thời chủ động chào giá bán ưu đãi tốt nhất cho những tổ chức có khả năng mua “sỉ”. Đặc biệt, các doanh nghiệp cần nâng cao năng lực tài chính để có thể tiếp cận nguồn vốn vay trực tiếp từ các NHTM: uy tín trả nợ, sử dụng vốn đúng mục đích, thực hiện đúng cam kết và minh bạch dòng tiền trả nợ…

- Hiện ACB có ưu tiên tín dụng cho lĩnh vực BĐS không?

- Hiện nay ACB dùng 7.000 tỷ đồng để tài trợ cho khách hàng cá nhân vay vốn với lãi suất thấp (chỉ từ 15,5%/năm). Ngoài ra, ACB cũng đang triển khai hợp tác với liên doanh CTCP Đức Mạnh, CTCP Đầu tư và Xây dựng 579 (DMC-CECICO579) cho khách hàng mua căn hộ dự án nhà ở xã hội chung cư Đại Địa Bảo (Blue House) tại quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng.

Dự án này có diện tích căn hộ trung bình khoảng 50m2, giá bán 5-6 triệu đồng/m2. Hiện tại dự án đã phân phối được khoảng 70% tổng số căn hộ (tiêu biểu cho thị trường căn hộ giá rẻ, diện tích nhỏ).

- Xin cảm ơn ông.

Thế Tường
Theo Sài Gòn ĐTTC

Các quỹ đầu tư sẽ về đâu?

Hàng loạt quỹ đầu tư sẽ chấm dứt hoạt động trong giai đoạn 2012-2014. Số phận các quỹ này đang phụ thuộc vào phán quyết của các cổ đông góp vốn.



Cổ đông góp vốn vào các quỹ hẳn không khỏi xót xa khi giá trị tài sản bốc hơi theo thị trường, đặc biệt khi thời điểm giải thể quỹ, thoái vốn cận kề.

Giải thể hay gia hạn?


Quỹ thành viên V2 có quy mô vốn trên 960 tỷ đồng, đầu tư dàn trải: gần 30 mã niêm yết, cổ phiếu OTC kém thanh khoản và cả dự án bất động sản (căn hộ/văn phòng hạng sang) khiến cho thanh khoản kém hiệu quả và giá trị tài sản ròng (NAV) giảm liên tiếp. Tính đến nay, NAV quỹ này giảm gần 50% so với thời điểm thành lập quỹ. Tính ra cổ đông quỹ này đã thua lỗ một nửa, không kể chi phí cơ hội lãi suất đã từng vượt trên 18%/năm trong giai đoạn 2007-2011. Tuy còn 2 năm nữa mới đến thời điểm giải thể quỹ V2, nhưng cũng giống như cổ đông của các quỹ khác, các cổ đông của V2 đang nhấp nhổm trước quyết định: tiếp tục gia hạn hay rút vốn/giải thể? Nếu rút vốn, cổ đông chấp nhận mất 50% số vốn và thêm 1 khoản hoàn nhập dự phòng nhỏ. Nếu tiếp tục, liệu mức độ phục hồi NAV có về được vốn ban đầu không? Mặc dù năm 2012 có nhiều yếu tố thuận lợi cho TTCK (lãi suất hạ, Chính phủ đưa ra gói hỗ trợ doanh nghiệp), nhưng mọi hy vọng chỉ lóe lên nếu cơ cấu tài sản quỹ có tỷ lệ tiền mặt cao để đón đầu cơ hội tăng trưởng.

Đứng từ góc độ lợi ích của công ty quản lý quỹ, thu nhập chính của các công ty này đến từ phí quản lý quỹ (dao động từ 1% - 2%/NAV) và mức thưởng, nghĩa là NAV càng cao thì phí quản lý sẽ tăng và ngược lại. Phí quản lý quỹ VFMVF1 đã giảm 30% xuống còn 33,5 tỷ đồng trong năm 2011 do NAV quỹ này giảm xuống 1.298 tỷ đồng so với 2.126 tỷ đồng năm 2010. Nếu quỹ giải thể thì thu nhập của công ty quản lý sẽ giảm sút nghiêm trọng, hơn thế nữa, danh tiếng của công ty cũng đi xuống. Do vậy, một vài công ty đã khôn khéo chấp thuận việc một số cổ đông muốn rút vốn, đồng thời thuyết phục các cổ đông khác tiếp tục gia hạn. Như vậy, quỹ sẽ giảm vốn điều lệ nhưng vẫn tiếp tục hoạt động. Thời gian gia hạn phụ thuộc vào niềm tin của khách hàng, bằng cách đưa ra kịch bản thị trường, chiến lược quản lý. Quỹ TF sắp giải thể trong năm 2012 đang thuyết phục cổ đông tiếp tục gia hạn sau 2 năm sẽ hòa vốn. Sau mỗi năm, cổ đông sẽ đánh giá mức tăng trưởng NAV quỹ so với toàn thị trường để quyết định tiếp tục gia hạn thêm hay không. Trách nhiệm và quyền lợi của công ty quản lý quỹ nằm ở điều kiện then chốt này !

Xung đột trong phân chia tài sản


Đối với các quỹ không được gia hạn, áp lực thoái vốn và chiến lược bán tài sản không hề dễ dàng nếu tài sản có tính thanh khoản kém. Đơn cử như các quỹ của Mekong Capital chủ yếu đầu tư mua vốn cổ phần tư nhân (private equity), cổ phiếu chưa niêm yết (OTC). Còn VOI của Vinacapital thì đầu tư vào các dự án bất động sản. Để thoái được hết vốn, quỹ cần tìm được đối tác muốn tham gia với tư cách cổ đông chiến lược hay dưới hình thức thâu tóm M&A. Đối với Quỹ đầu tư Y tế Bản Việt (VCHF), lợi thế của quỹ chính là CTCK Bản Việt, đơn vị tư vấn cho nhiều thương vụ M&A lớn trong 2 năm gần đây. Gần đây, quỹ đã thoái vốn thành công khoản đầu tư vào CTCP Xuất nhập khẩu Y tế Domesco (DMC) cho một đối tác dược phẩm nước ngoài với mức giá cao gấp 2 lần giá thị trường. Thuận lợi của quỹ VCHF xuất phát từ liên kết chặt chẽ giữa công ty quản lý quỹ, CTCK và hơn thế nữa là mạng lưới khách hàng tổ chức lớn.

Tương phản với VCHF, nhiều quỹ đầu tư phải chấp nhận bán lỗ khoản đầu tư để thu hồi vốn trước áp lực rút vốn của cổ đông. Đối với khoản đầu tư OTC hay vốn tư nhân không thể thanh lý trên thị trường, quỹ sẽ đề xuất cho tổ chức phát hành mua lại cổ phiếu quỹ theo yêu cầu. Nếu không thành công, cổ đông sẽ nhận về số lượng cổ phiếu theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp. Đối với khoản đầu tư trái phiếu, ngoại trừ trái phiếu chính phủ có thể thanh lý dễ dàng, các khoản trái phiếu doanh nghiệp lợi suất cao trên 20%/năm luôn tiềm ẩn khả năng mất thanh toán nợ gốc. Ngoài ra, khó khăn chồng chất thêm nếu quỹ trót đầu tư vào dự án bất động sản như quỹ V2 đã rót vốn vào một dự án văn phòng cao cấp tại Q.1, TP.HCM. Do tình trạng dư cung của bất động sản, đặc biệt là phân khúc cao cấp, nếu không bán tháo vốn góp, khả năng cổ đông sẽ nhận được sản phẩm bất động sản dang dở hoặc đã hoàn thành. Khi ấy, áp lực thoái vốn quỹ trở nên căng thẳng với việc phân chia lợi ích: bán rẻ để thu tiền mặt hay "cắt bánh" tài sản cho cổ đông?

Câu hỏi về thực lực của các quỹ

Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ là mô hình đầu tư chuyên nghiệp, được khuyến khích phát triển ở thị trường tài chính thế giới. Tuy vậy, các quỹ đầu tư đã giảm uy tín rõ rệt trong con mắt nhà đầu tư trong thời gian thị trường lao dốc vừa qua. NAV các quỹ giảm không thua kém so với mức sụt giảm chung của thị trường, thêm vào đó, giá các chứng chỉ quỹ niêm yết như VF1, VFA, PRUBF1 chiết khấu 30-50% so với NAV. Vậy đâu là nguyên nhân gây ra sự yếu kém trong kết quả kinh doanh các quỹ đầu tư? Phần lớn danh mục các quỹ đầu tư bị dàn trải, thanh hoán kém, tỷ lệ tiền mặt khan hiếm trong giai đoạn thị trường lao dốc. Xét một cách toàn diện, đội ngũ nhân sự của các công ty quản lý quỹ rất mỏng, phụ trách nhiều quỹ khác nhau nên hạn chế tích cực trong giao dịch. Đơn cử một giám đốc danh mục có thể quản lý 2-3 quỹ khác nhau, sẽ dẫn đến trùng lặp tiêu chí đầu tư từng quỹ, không kiểm soát hết thông tin từ danh mục tài sản. Thêm vào đó, các công ty quản lý quỹ phản ứng chậm chạp với thị trường, thiếu các quyết định dứt khoát trong thời điểm thị trường biến động : không tạo ra thu nhập hay thanh hoán danh mục. Nghịch lý là công ty quản lý quỹ không chịu bất cứ thua lỗ nào từ quyết định đầu tư và vẫn được hưởng phí quản lý !

Gần đây, tuy việc thành lập quỹ mới rất khó khăn do điều kiện thị trường, một số công ty quản lý quỹ vẫn lên kế hoạch tung ra sản phẩm quỹ mới. Hiểu một cách cặn kẽ hơn, phí quản lý tăng lên kèm với giá trị tài sản quản lý lớn là điều các công ty quản lý quỹ đều mong đợi cho lợi ích của riêng họ. Còn về phía nhà đầu tư, thua lỗ họ phải gánh chịu, đồng thời vẫn trả phí quản lý lẫn phí thưởng cho công ty quỹ. Xét cho cùng, nhà đầu tư không chỉ cần profile đẹp, biểu phí cạnh tranh, sản phẩm mới mẻ, mà quan trọng hơn là đạo đức nghề nghiệp luôn song hành quyền lợi cổ đông góp vốn.
Theo Doanh Nhân

Lãi suất sẽ giảm mạnh lần cuối cùng trong năm 2012

Nguyên Bộ trưởng Kế hoạch-Đầu tư Trần Xuân Giá: Lãi suất có thể giảm thêm một đợt 2% để tạo sự ổn định từ nay đến cuối năm.



Xung quanh các vấn đề điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất, nợ xấu… PV đã có cuộc trao đổi với nguyên Bộ trưởng Kế hoạch - Đầu tư Trần Xuân Giá.

Thưa ông, vấn đề điều hành lãi suất thời gian tới được các NH bàn bạc trong buổi làm việc với NHNN hôm 31/5 sẽ theo hướng nào?

Ông Trần Xuân Giá: Nói chung, các NH thực hiện nhất quán chủ trương điều hành lãi suất theo tín hiệu chỉ số lạm phát (CPI). Chiều hướng chung CPI tiếp tục giảm, dự báo trong tháng 6 có tăng cũng ở mức độ rất thấp. Chủ trương đi liền với đó là tiếp tục giảm các lãi suất chủ chốt. Nếu CPI tiếp tục ở mức 0,1-0,2% so với tháng trước thì có thể phải giảm sâu hơn lãi suất. Có thể giảm 2%. Việc cứ 3 tuần, 1 tháng lại giảm lãi suất một lần tạo tâm lý chờ đợi không cần thiết cho cả người gửi và vay tiền. Do đó, nếu thực hiện sự giảm sâu hơn so với mấy lần trước thì có thể đây là lần giảm cuối cùng trong năm nay để ổn định từ nay đến cuối năm. Tôi cho rằng việc làm đó là đúng và cần thiết.

Các DN kêu khó, dường như NH không có khó khăn gì trong thời điểm hiện tại, thưa ông?

Ông Trần Xuân Giá: Cản trở lớn nhất hiện nay của các NH là không tăng được tín dụng (đến 28/5 tín dụng vẫn âm, nếu loại các yếu tố khác thì cũng mới về 0%). Đây biểu hiện một nền sản xuất kinh doanh đang khó khăn. Ở Việt Nam, tín dụng là kênh dẫn vốn chủ yếu của nền kinh tế. Việc DN không đến được với ngân hàng (không tiếp cận được vốn) không phải vì lãi suất cao hay thấp.

Hiện nay, nhu cầu vốn ở mức rất thấp. Đây là điều cần quan tâm vì hàng tồn kho, sản xuất khó khăn thì vay vốn để làm gì? Có thể chia DN thành 2 nhóm: thứ nhất không có nhu cầu vay vốn hoặc nhu cầu thấp do đầu ra của sản xuất gặp khó. Nhóm thứ hai là vì nợ cũ không trả được, có nhu cầu nhưng NH không cho vay.

Vậy lãi suất không phải là chìa khóa giải quyết các khó khăn của nền kinh tế hiện nay, thưa ông?

Ông Trần Xuân Giá: Đúng là gỡ khó cho DN không phải là tập trung sức giảm lãi suất mà làm sao xử lý được nợ xấu, để các DN có nhu cầu vay vốn đạt được chuẩn tối thiểu về an toàn cho NH. Điều này, từng NH đã làm bằng việc cơ cấu lại nợ… và NHNN cũng có văn bản qui định về vấn đề này. Nhưng ở cấp từng NH xử lý thì không được bao nhiêu. Đó là chưa nói, khi đưa ra các chuẩn mới thường là khó khăn hơn các chuẩn cũ. Như vậy, càng gây khó khăn cho DN đến với NH.

Việc sẽ tiếp tục hạ lãi suất có ảnh hưởng đến doanh thu của các NH, thưa ông?

Ông Trần Xuân Giá: Thực tế, các NH cũng khó khăn. Có NH thì thiếu thanh khoản, có NH thì thừa vì nhu cầu người vay không có. Bản thân NH là một DN nên phải tự lo xử lý nợ xấu của chính nó để tồn tại. NH phá sản thì rất nặng nề, mang lại hệ quả xấu cho đất nước. Cho nên nó càng phải giữ gìn hơn chứ không phải muốn gây khó dễ gì cho DN.

Trong buổi làm việc hôm qua, NHNN đưa ra chủ trương thành lập công ty mua bán nợ trực thuộc, với tổng vốn điều lệ khoảng 100.000 tỉ đồng. Quan điểm của ông về vấn đề này?

Ông Trần Xuân Giá: Ý tưởng thành lập các công ty mua bán nợ trong hệ thống tài chính – ngân hàng là cần thiết và cần ngay bây giờ. Bởi kinh nghiệm cá nhân tôi, xử lý vấn đề này rất tốn kém. Vì càng lâu thì chi phí càng cao, xử lý vấn đề càng khó khăn.

Đầu năm 1990, qui mô NH nhỏ hơn bây giờ, nhưng xử lý phải do Ban xử lý nợ trung ương để xử lý nợ thành các giai đoạn 1-2-3… Tất nhiên cung cách xử lý lúc ấy so với hiện nay là khác. Nhưng tôi muốn nói, xử lý vấn đề này phải là ở tầm quốc gia chứ không thể ở từng DN.

Tiền đề ban đầu cho Công ty này là gì, thưa ông?

Ông Trần Xuân Giá: Mua bán nợ phải cần nhiều tiền. Giả sử tổng GDP là 5 tỷ, có người thì tính số nợ cần phải xử lý chiếm 10% hoặc 5% trong GDP... (lần lượt là 10 tỷ và 5 tỷ USD). Tất nhiên ở VN không cần 10 tỷ USD, nhưng phải là 4-5 tỷ. Con số này không phải là bé với qui mô của nền kinh tế chúng ta. Nhưng có thể có được bằng cơ chế.

Nguồn lực đó từ nhà nước, huy động từ phía NH trong và ngoài nhà nước. Tất cả những thứ đó phải có nguồn tiền lớn và nguồn này phải hết sức đa dạng.

Có ý kiến phản đối lấy nguồn từ ngân sách và coi đây là một sự đánh đố?

Ông Trần Xuân Giá: Tôi biết ý kiến này. Tôi thì ngược lại vì đã từng làm việc cụ thể này. Những năm 1990, yêu cầu DNNN thay vì cấp vốn phải đi vay vốn, nhưng lãi suất cao nên không DN nào có thể vay được. Khi đó, Nhà nước đứng ra bù giữa lãi suất thị trường với lãi suất doanh nghiệp có thể chịu đựng được. Đấy cũng là NS, là tháo gỡ cái khó cho DN có thể đến được với NH. Và nó chuyển được việc từ nay NS không bao cấp nữa. Muốn hoạt động được thì phải đi vay để đầu tư. Cái được lớn nhất là cơ chế từ bao cấp sang thị trường. Nhưng khi NN bỏ tiền ra thì phải cân nhắc chứ không thể đại trà được. Một loạt DN không chịu đựng được đã phải giải thể. NN phải xử lý lao động, về hưu một cục… để DN có đủ điều kiện đến với NH. Như vậy, anh muốn được một cơ chế thì anh phải tốn chi phí. Đây không phải là chuyện thương DN này, ghét bỏ DN khác.

Bây giờ, cách thức thực hiện đã khác nhưng không thể không bỏ ngân sách được. Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, bỏ ngân sách ra nhiều khi còn có lợi. anh mua bây giờ đến lúc anh làm nó khá lên thì sẽ bán lại.

Xin cảm ơn ông!

Vũ Hạnh
Theo VOV

Hé mở khoản tiền siêu khủng 500 tỷ "kích" bất động sản

Thông tin về nguồn tiền 500 tỷ đồng sẽ được giải ngân trong thời gian tới đang thu hút sự quan tâm của dư luận. Nhiều câu hỏi được đạt ra nguồn tiền này sẽ được lấy từ đâu và sẽ được sử dụng như thế nào ...

Tại buổi hội thảo vừa được tổ chức gần đây, ông Nguyễn Trần Nam – Thứ trưởng Bộ Xây dựng đã tiết lộ về số vốn sẽ được giải ngân cho đầu tư công và dòng tiền này được kỳ vọng sẽ giúp kích thích thị trường bất động sản.

Ông Nam cho biết, trong kế hoạch từ nay đến cuối năm ngân sách nhà nước sẽ phải giải ngân lượng vốn khoảng 120.000 tỉ đồng trên tổng số 180.000 tỉ đồng. Số tiền này được đưa ra thị trường là rất tốt. Bên cạnh đó, sẽ có thêm nguồn vốn từ trái phiếu.

Hiện mới giải ngân 7.000 tỉ đồng, trong khi trong kế hoạch của năm 2012 phải giải ngân 45.000 tỉ, như vậy còn 38.000 tỉ đồng trái phiếu Chính phủ sẽ giải ngân trong 7 tháng cuối năm. Ngoài ra còn 17.000 tỉ đồng đầu tư khác từ các nguồn viện trợ ODA... Tính tổng các khoản này, nguồn vốn phải giải ngân lên xấp xỉ 200.000 tỉ đồng.

Bên cạnh đó, tăng trưởng tín dụng theo kế hoạch phải tăng trong năm 2012 là 15-17%. Vì vậy trong 7 tháng còn lại của năm, mỗi tháng phải tăng ít nhất 2%. Với mức tăng trưởng chỉ 14-15% sẽ tương đương 300.000 tỉ đồng.

Cộng cả 2 khoản này con số sẽ vào khoảng 500.000 tỉ đồng.

“Số tiền này tung ra thị trường sẽ có tác động rất lớn, góp phần phục hồi nền kinh tế” ông Nam nhấn mạnh.

Trước đó, ông Vũ Nhữ Thăng – Viện trưởng Viện chiến lược và chính sách tài chính (Bộ Tài chính) cho biết, cụ thể hóa nhóm giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp sẽ có một lượng tiền lớn được Chính phủ đưa ra để hỗ trợ doanh nghiệp. Trong đó, tổng số tiền sử dụng đất sẽ được giãn cho các doanh nghiệp khoảng 37.000 tỷ đồng. Tổng số tiền giãn thuế giá trị gia tăng 12.300 tỷ đồng.... Đồng thời, Chính phủ tiếp tục đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ theo trong dự toán 45.000 ngàn tỷ đồng. Đây là những khoản đã có trong dự toán 2011 tại Nghị quyết 01/NQ-CP, nhưng phải tạm dừng, chuyển sang năm 2012.

Theo đánh giá của ông Thăng, nếu lượng vốn này được giải ngân sẽ có cơ hội giúp khơi thông thị trường cho một số doanh nghiệp sản xuất như sắt, thép, xi mặng...
 Theo VnMedia
 

“Gói kích cầu” ngân hàng: Hy vọng phục hồi thanh khoản BĐS

Trong bối cảnh hạ lãi suất đang trở thành một xu thế không thể chối bỏ, nếu “gói kích cầu” từ Ngân hàng nhà nước diễn ra đồng bộ, xu thế phục hồi giao dịch cho một thị trường bất động sản đóng băng là gần như chắc chắn.

9%?

Hy vọng cho sự phục hồi giao dịch trên thị trường bất động sản ngày càng có cơ sở hơn khi hạ lãi suất đang trở thành một xu thế không thể chối bỏ. Vào ngày cuối tháng 5/2012, cuộc họp của Ngân hàng nhà nước Việt Nam với 14 ngân hàng lớn đã phát đi tín hiệu một lần nữa trần lãi suất huy động có thể được kéo hạ.

Nhưng khác với tiền lệ trong liên tiếp ba tháng qua, lần hạ trần lãi suất huy động tới đây có thể sẽ khác biệt nhiều. Khác biệt đầu tiên thuộc về biên độ giảm, với mức 2% so với trần lãi suất huy động hiện thời là 11%. Nếu khả năng này diễn ra, trong thực tế và xét về lịch sử biến động lãi suất, đó sẽ là một cú “đánh xuống” rất mạnh trần lãi suất huy động, vì chỉ trong thời gian 4-5 tháng, loại lãi suất này giảm đến 5% so với mức 14% - vốn đã tồn tại suốt từ tháng 2/2011 đến tháng 3/2012.

Khác biệt thứ hai của chính sách nới lỏng tín dụng đến từ cơ chế nới lỏng điều kiện cho vay. Tuy chưa có sự giải thích chính thức và có lẽ sẽ không có, nhưng với những gì mà các ngân hàng thương mại cổ phần đã phải cất tiếng ta thán do tình hình ứ vốn trong thời gian gần đây, cũng như những động thái phát ngôn và hành xử của Ngân hàng nhà nước, có thể đoan chắc là hệ thống tiêu chí cho vay của các ngân hàng sẽ được điều chỉnh dần, theo hướng không còn ngặt nghèo như trước, nhằm làm cho doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với vốn vay hơn và trên hết là bắt đầu phục hồi niềm tin với ngân hàng - một phạm trù đã trở nên tan vỡ trong suốt cả năm qua.

Một cử chỉ đáng quan tâm nữa của Ngân hàng nhà nước là cơ quan này yêu cầu các ngân hàng thương mại điều chỉnh giảm lãi suất cho vay thuộc về những hợp đồng cũ để giảm tải chi phí cho khách hàng. Trên thực tế, quy định mới mẻ này rất quan trọng, vì có đến 80-90% trường hợp cho vay liên quan đến hợp đồng cũ với lãi suất cao, muốn chuyển sang hợp đồng mới với mức lãi suất cho vay thấp hơn phải chờ đáo hạn hợp đồng cũ, nghĩa là nếu nhanh cũng phải chờ đến 6 tháng nữa.

Môt khác biệt không kém quan trọng nữa chính là nội dung liên quan đến lĩnh vực bất động sản. Vào đầu tháng 5/2012, Ngân hàng nhà nước đã ban hành Thông tư 14 áp trần lãi sất cho vay ở mức 14% đối với 4 lĩnh vực cần được khuyến khích như hàng xuất khẩu, nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong thực tế, trước khi quy định này ra đời, một số ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV, Eximbank… cũng đã chào hàng những gói tín dụng với lãi suất cho vay ưu đãi ở mức 14-16%. Do vậy, trần lãi suất cho vay 15% trong Thông tư 14 đã trở nên không “thức thời”.

Sau khi hạ trần lãi suất huy động từ 12% về 11%, tương ứng trần lãi suất cho vay đối với 4 lĩnh vực khuyến khích cũng giảm từ 15% về 14%, lượng cung cho vay đã không vì thế mà tăng lên. Hệ quả của chính sách siết tín dụng cách đây không lâu vẫn còn để lại hậu quả nặng nề đối với chính các ngân hàng, khi hầu hết ngân hàng đều nằm trong tình trạng ứ vốn mà không thể cho vay được. Vì thế, cơ chế mở rộng diện đối tượng áp trần lãi suất cho vay là cần thiết, thậm chí đặc biệt cần thiết đối với những ngân hàng có truyền thống và chủ trương cho vay tiêu dùng, bất động sản, chứng khoán như BIDV, Vietcombank.

Theo một thông tin từ cuộc họp giữa Ngân hàng nhà nước với nhóm G14 vào ngày 31/5/2012, có khả năng sắp tới Ngân hàng nhà nước sẽ có quy định cho phép cả bất động sản, tiêu dùng và chứng khoán nằm trong diện được áp trần lãi suất cho vay. Xét theo quan điểm nhiều ngân hàng có thể nới lỏng điều kiện cho vay, cơ chế áp trần lãi suất cho vay đối với bất động sản xem ra có vẻ khá logic. Hơn nữa, đối với khối ngân hàng lớn dôi dư tiền mặt, khuynh hướng chung là những khoản cho vay tiêu dùng sẽ được chú trọng hơn do tài sản thế chấp đảm bảo hơn và do đó độ rủi ro cũng thấp hơn. Gần đây, Vietcombank và BIDV là hai ngân hàng đi tiên phong trong cơ chế nới hầu bao cho vay tiêu dùng với mức lãi suất thấp hơn hẳn các ngân hàng khác - từ 13-14,5%.

Kích cầu!


Có thể nói, tuần cuối tháng 5/2012 đã tiếp nhận khá nhiều thông tin hỗ trợ cho thị trường bất động sản. Cùng thời điểm với cuộc họp của Ngân hàng nhà nước với nhóm G14 ở Hà Nội, tại TP.HCM cũng diễn ra cuộc hội thảo “Vực dậy thị trường bất động sản”.

Một nội dung đáng chú ý trong cuộc hội thảo về bất động sản trên là vai trò của Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam. Sau một thời gian “vắng bóng”, vị thứ trưởng này lại xuất hiện với những thông tin ấn tượng: trong số 180 nghìn tỷ đồng đầu tư công dành riêng cho năm 2012, Chính phủ mới dùng 60 nghìn tỷ đồng. Vì thế trong 7 tháng còn lại của năm, 120 nghìn tỷ đồng nữa sẽ được bơm vào thị trường. Theo ông Nam, dòng tiền này khi được lưu thông chắc chắn sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế, tác động tích cực đến nhiều ngành nghề khác, trong đó có địa ốc.


Với những động thái khá cấp tập đang diễn ra từ phía Ngân hàng nhà nước và cơ quan quản lý ngành xây dựng, có thể nói xu thế phục hồi giao dịch cho một thị trường bất động sản đóng băng là gần như chắc chắn.

Mặt khác, nếu tính gói đầu tư công cộng thêm 38.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, tạm ứng trước vốn năm 2013 thì trong 7 tháng cuối năm thị trường có thể đón nhận khoảng 200.000 tỷ đồng. Đó là chưa kể đến gói giải pháp khoanh nợ 100.000 tỷ đồng (khoảng 5 tỷ USD) tạo điều kiện cho các ngân hàng giải ngân cho vay giúp tăng trưởng kinh tế.

Riêng Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục kiến nghị đưa một số dự án, doanh nghiệp bất động sản vào diện tháo gỡ của Nghị quyết 13; đưa một số giao dịch bất động sản vào diện miễn, giảm thuế VAT. Nhà ở thương mại dưới 90 m2, giá bán dưới 20 triệu đồng cũng sẽ được hưởng thuế suất VAT 5%...

Với những động thái khá cấp tập đang diễn ra từ phía Ngân hàng nhà nước và cơ quan quản lý ngành xây dựng, có thể nói xu thế phục hồi giao dịch cho một thị trường bất động sản đóng băng là gần như chắc chắn. Nếu có thể nói thêm, một loạt cơ chế mới của Ngân hàng nhà nước, với điều kiện là có sự tham gia đồng bộ của nhiều ngân hàng thương mại, đặc biệt về việc triển khai thực giảm lãi suất cho vay và thực tăng cung cho vay, sẽ có ý nghĩa như một gói kích cầu nhỏ trong khả năng hạn hẹp của nền kinh tế, có thể tạo được tác động hỗ trợ ở mức độ nào đó cho thị trường, giúp thị trường này lấy lại được phần nào khí sắc chứ không đến nỗi phải chết yểu như nhiều người vẫn lo sợ.
Theo Diaoconline

Có thể hạ lãi suất huy động xuống 9%/năm

Theo thông tin từ cuộc họp giữa NHNN cùng 14 ngân hàng thương mại chiều qua (31.5), từ nay đến hết 2012, nếu kinh tế vĩ mô không có những biến động bất thường, lạm phát duy trì mức tăng thấp như thời gian vừa qua, lãi suất huy động sẽ được đưa về mức 9%/năm để tạo điều kiện hạ lãi suất cho vay, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp.

Cũng tại cuộc họp này, NHNN đưa ra chủ trương thành lập công ty mua bán nợ trực thuộc, với tổng vốn điều lệ khoảng 100.000 tỉ đồng, nhằm thực hiện việc mua bán nợ xấu tại các ngân hàng cổ phần trong quá trình tái cơ cấu hệ thống.
Theo Thanhnienonline

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More