Huyện Vĩnh Cửu: lấy dịch vụ, đô thị, du lịch làm động lực phát triển kinh tế

Tại cuộc họp với Hội đồng Thẩm định của tỉnh để thông qua hồ sơ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của huyện Vĩnh Cửu giai đoạn 2010 - 2020 ngày 18-10 vừa qua, huyện Vĩnh Cửu đã đề ra nhiều chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, trong đó nhấn mạnh đến việc lấy phát triển dịch vụ, đô thị, du lịch làm khâu đột phá trong phát triển kinh tế từ đây cho đến năm 2020.

Trong 10 năm qua, kinh tế trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu đạt được tốc độ tăng trưởng khá, giai đoạn 2001-2005 đạt 7,52%, giai đoạn 2006-2010 đạt 7,05%. Tuy nhiên so với mặt bằng chung của tỉnh, huyện Vĩnh Cửu vẫn còn là một huyện nghèo. GDP của huyện trong năm 2010 đạt 2.856 tỷ đồng, chỉ chiếm 3,8% GDP toàn tỉnh.

Họp Hội đồng thẩm định tỉnh về quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Vĩnh Cửu giai đoạn 2010-2010



Công nghiệp là ngành kinh tế chủ lực của huyện thể hiện qua cơ cấu GDP ngành chiếm đến 73,99% GDP toàn huyện. Giá trị sản xuất công nghiệp phát triển với tốc độ trung bình, khoảng 7,45% trong giai đoạn 2001-2010. Mặc dù các cơ sở sản xuất công nghiệp phát triển nhanh trong thời gian qua nhưng số lượng doanh nghiệp FDI trên địa bàn huyện còn rất khiêm tốn. So với các địa phương khác trong tỉnh, tình hình thu hút đầu tư nước ngoài ở Vĩnh Cửu trong thời gian qua không cao. Nguyên nhân là huyện chưa đáp ứng được các tiêu chí về đầu tư hạ tầng, quy hoạch các khu, cụm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.

Ngành nông nghiệp có quy mô nhỏ nhưng phát triển khá toàn diện cả trồng trọt, lẫn chăn nuôi. Giai đoạn 2006-2010 tăng trưởng với tốc độ 5,4%, cao hơn mức bình quân chung của tỉnh. Năm 2010, tỷ trọng ngành chăn nuôi chiếm đến 31,99 giá trị sản xuất toàn ngành.

Một góc xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu



Vĩnh Cửu là một địa phương có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú, trong đó có nhiều điểm, khu du lịch sinh thái hấp dẫn như Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Văn Hóa Đồng Nai, Làng bưởi Tân Triều, Điểm Di tích Trung ương Cục Miền Nam, Khu ủy Miền Đông – Chiến khu D, các điểm du lịch làng nghề, sinh thái, nghỉ dưỡng… nhưng do chưa được đầu tư đúng hướng nên hiệu quả hoạt động của ngành du lịch còn thấp.

Theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội từ nay cho đến năm 2020, huyện Vĩnh Cửu sẽ tập trung mọi nguồn lực, phát huy các ưu thế, sử dụng có hiệu quả các tiềm năng của huyện vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế xã hội và đô thị hóa với tốc độ cao, bền vững gắn với chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ, giảm dần tỷ trọng công nghiệp – nông nghiệp. Chú trọng phát triển đô thị, dịch vụ, du lịch làm nhiệm vụ đột phá để phát triển kinh tế - xã hội.

Nghề làm bánh tráng ở Thạnh Phú



Để làm được điều này, Vĩnh Cửu xác định sẽ khai thác và phát huy hiệu quả các yếu tố nội lực, đặc biệt là các lợi thế so sánh như vị trí địa lý, đất đai, tài nguyên, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng hiện có đồng thời tranh thủ các yếu tố ngoại lực, nhất là thu hút đầu tư từ bên ngoài nhằm đưa ngành công nghiệp của huyện Vĩnh Cửu phát triển với tốc độ cao. Trong đó ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghệ sạch nhằm làm tăng năng suất lao động và bảo vệ môi trường.

Để chuẩn bị các điều kiện làm tiền đề thu hút các nhà đầu tư, giai đoạn 2011-2015, huyện sẽ tập trung đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng trong và ngoài khu, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trong đó ưu tiên đầu tư vào Khu công nghiệp Thạnh Phú và cụm công nghiệp đúc gang. Phấn đấu đến năm 2015 lấp đầy 100% diện tích Khu công nghiệp Thạnh Phú và Cụm công nghiệp Đúc gang, 60-70% đối với các cụm còn lại. Năm 2020 lấp đầy 100 diện tích quy hoạch các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên đại bàn huyện.

Ngoài ra, Vĩnh Cửu còn ưu tiên phát triển hệ thống dịch vụ đầu tư, thương mại phục vụ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Khuyến khích phát triển dịch vụ cho xây dựng đô thị và nông thôn mới, tăng cường phát triển dịch vụ tài chính – tín dụng, đẩy mạnh phát triển dịch vụ vận tải… Mục tiêu là đưa GDP của ngành dịch vụ tăng gấp 2 lần so với mức GDP chung của toàn huyện.

Về tổng thể, huyện Vĩnh Cửu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP trung bình hằng năm giai đoạn 2011-2015 khoảng 20% và đạt 21,7% vào giai đoạn 2016-2020. Cơ cấu ngành dịch vụ tăng từ 16% lên 23,61% năm 2015 và đạt 36,42% vào năm 2020.

Theo UBND Đồng Nai

‘TP HCM SẼ LỤT NHƯ BANGKOK NẾU PHÁT TRIỂN NHƯ HIỆN NAY’


So sánh nhiều điểm tương đồng từ trận lụt ở Bangkok, PGS. TS Hồ Long Phi – Phó ban điều phối chương trình chống ngập TP HCM dự đoán, không sớm thì muộn trận “đại hồng thủy” ở Bangkok sẽ tái diễn nếu TP HCM cứ phát triển như hiện nay.

Thái Lan đang trải qua trận lụt tồi tệ nhất trong lịch sử, ông so sánh gì với tình hình hiện nay ở TP HCM?

- Nếu TP HCM và các khu vực chung quanh cứ tiếp tục phát triển như hiện nay thì sớm muộn gì trận “đại hồng thủy” ở Bangkok sẽ tái diễn ở TP HCM.

Nếu xảy ra những biến cố thời tiết lịch sử tương tự như Bangkok thì mực nước tại trạm Phú An trên sông Sài Gòn có thể sẽ đạt đến 1,7 m hoặc cao hơn. Khoảng 60.000 ha thuộc các khu vực trũng thấp như Củ Chi, Bình Chánh, quận 2, quận 6, quận 7, quận 8, Bình Thạnh, Nhà Bè, Thủ Đức sẽ bị đe dọa. Ngoài ra hệ thống kiểm soát triều của TP HCM chưa được hoàn thiện, dòng chảy sẽ nhanh chóng tràn bờ.

Với các khu vực nội thành, nếu xảy ra các trận mưa lớn có vũ lượng trên 100 mm, trùng với khi mực nước dâng cao thì việc ngập kéo dài trên diện rộng là hoàn toàn có thể xảy ra.

Tuy nhiên, có thể nói địa hình (cao độ, độ dốc) của đa phần khu vực đã phát triển của TP HCM là khá thuận lợi về mặt thoát nước so với Bangkok. Do đó nếu được chuẩn bị ứng phó tốt thì tình hình ngập ở TP HCM khi xảy ra những thiên tai lớn sẽ có thể được giảm nhẹ.
Người dân Thái bám vào dây thừng để chống chọi nước lũ hôm 25/10

- Nguyên nhân dẫn đến trận lụt tồi tệ ở Thái Lan là khai thác nước ngầm, xây dựng tràn lan làm Bangkok lún, mưa to kéo dài ở thượng nguồn và nước biển dâng. Vậy nguyên nhân gây ngập ở TP HCM là gì?

- Kết quả nghiên cứu gần đây của một số chuyên gia cho thấy tốc độ lún hàng năm ở thành phố có thể đến 2-3 cm tại một số khu vực. Hiện chưa có nghiên cứu chi tiết nào về cơ chế và nguyên nhân của hiện tượng lún tại TP HCM. Tuy nhiên theo những kết quả nghiên cứu đối với Jakarta, Bangkok, Thượng Hải…, vấn đề khai thác nước ngầm, nhà cao tầng và hiện tượng nền đất yếu đều có thể góp phần vào việc gây ra hiện tượng lún cục bộ và trên diện rộng.

Bên cạnh đó, quá trình phát triển đô thị không được kiểm soát tốt trong suốt vài thập niên qua đã vượt xa so với tốc độ nâng cấp hệ thống thoát nước. Hệ quả là tình trạng ngập ở TP HCM đã bắt đầu xuất hiện từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước. Khoảng 10 năm gần đây nỗ lực của thành phố trong việc xóa giảm ngập chỉ là để khắc phục hậu quả của việc thiếu đầu tư đồng bộ cho hệ thống thoát nước. Tình trạng này đang xuất hiện ngày càng trầm trọng ở Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ, Đà Lạt… và hàng chục đô thị lớn trong cả nước không loại trừ vùng ven biển, đồng bằng hay cao nguyên. Bài học của TP HCM đang lặp lại ở các đô thị trên cả nước.

Ngoài ra, mực nước biển dâng cũng khiến tình trạng mực nước sông dâng cao. Tuy nhiên tốc độ dâng của mực nước biển tại Vũng Tàu trong vài thập niên qua chỉ vào khoảng 0,5 cm/năm, bằng khoảng 1/3 tốc độ dâng của mực nước tại trạm Phú An trên sông Sài Gòn. Việc quản lý các hồ chứa trên thượng nguồn chưa được chú trọng đúng mức đến công tác phòng lũ mà chủ yếu vẫn thể hiện mong muốn cực đại hóa lợi nhuận ngành. Cũng như vậy, việc phá hủy diện tích lớn rừng phòng hộ có thể mang lại lợi ích cục bộ cho từng địa phương nhưng lại dẫn đến lũ ngày càng hung hãn.

Từ đó có thể kết luận rằng tình trạng ngập triều gia tăng tại TP HCM là hệ quả tổng hợp của các yếu tố xả lũ từ các hồ chứa thượng nguồn, san lấp lấn chiếm kênh rạch và các khu vực trũng có thể chứa nước.

- Ông đánh giá thế nào về khả năng đối phó, chống ngập của TP HCM?

- Trên thực tế, tình trạng ngập ở khu vực nội thành TP HCM đã bắt đầu giảm dần từ 2007 về số vị trí ngập, số lần ngập cũng như thời gian kéo dài nhờ vào những nỗ lực đầu tư của TP HCM trong suốt thập niên vừa qua. Số vị trí ngập hiện tại, kể cả phát sinh mới chỉ vào khoảng 40, tức là đã giảm được hơn 50%. Sau khi các dự án ODA hoàn tất (dự kiến trong khoảng 2012-2013) thì có thể làm thay đổi đáng kể tình trạng ngập trong khu vực nội thành.

Tuy nhiên tình trạng xuất hiện những vị trí ngập mới lại bắt đầu diễn ra ở các khu vực mới phát triển chung quanh thành phố. Đây mới là điều đáng ngại. Nếu chúng ta không tiếp tục đầu tư thích đáng cho công tác xóa giảm ngập thì khoảng chừng một thập niên nữa tình trạng “100 điểm ngập” có thể lại tái diễn.

Việc xả lũ với lưu lượng lớn từ các hồ chứa thượng nguồn chắc chắn có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với TP HCM. Nếu xảy ra những trận bão lớn vào cuối mùa mưa trên lưu vực thì sẽ cực kỳ nguy hiểm vì khi đó các hồ hầu như đã tích đầy nước và không còn khả năng cắt lũ. Tôi cho rằng TP HCM nên sớm có kiến nghị với trung ương để khẳng định lại vai trò cắt lũ của các hồ chứa gần với TP HCM như Trị An, Dầu Tiếng, Phước Hòa.

- TP HCM rút ra những bài học gì sau trận lụt lịch sử ở Bangkok?

- Chúng ta có 5 bài học kinh nghiệm có thể rút ra. Thứ nhất là vai trò điều tiết lũ của các hồ chứa thượng nguồn. Khi xảy ra mưa lớn trên toàn khu vực, các hồ chứa ở thượng nguồn Bangkok đều hầu như đã đầy nước và không còn khả năng cắt lũ. Việc tiến hành xả lũ lại khá chậm chạp và thiếu kiên quyết, vừa xả vừa tiếc, với hy vọng mưa sẽ dứt.

Bài học thứ hai về việc tin tưởng tuyệt đối vào hệ thống đê bao cộng với hàng trăm trạm bơm chung quanh Bangkok trị giá hàng tỷ USD. Tất cả các công trình đều có năng lực thiết kế của nó. Các thông số thiết kế đều chỉ dựa vào số liệu quá khứ và dự đoán cho tương lai. Tuy nhiên đối với tình trạng biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng rõ nét thì việc dựa vào các giải pháp truyền thống sẽ dẫn đến những nguy cơ rất cao.

Tiếp đó là bài học về việc thiếu hệ thống điều tiết tại chỗ và phân lũ cho khu vực thượng nguồn. Khi các khu vực nằm ở thượng nguồn Bangkok đều đã được đô thị hóa, các diện tích trữ nước trước đây dần biến mất.

Tiếp nữa là việc “bỏ tất cả trứng vào trong một giỏ”. Một hệ thống đê bao có quy mô lớn, chỉ cần một chỗ bị hỏng là toàn bộ khu vực bên trong sẽ bị đe dọa.

Cuối cùng là bài học về việc đối kháng trực tiếp đối với thiên nhiên. Trong các quy hoạch phát triển không gian đô thị hiện nay của chúng ta, không gian cần thiết dành cho nước lại ít được quan tâm, mà chủ yếu dựa vào lòng “hảo tâm” của các nhà đầu tư phát triển địa ốc.
Người dân TP HCM phải sống trong biển nước mỗi khi có mưa lớn, triều cường. Ảnh: Hữu Công.


Từ đó, theo tôi, chúng ta nhất thiết phải rà soát lại các quy hoạch chống ngập cho thành phố toàn diện và bổ sung các biện pháp giảm nhẹ, thích nghi chứ không nên tin tưởng tuyệt đối vào các giải pháp công trình.

Quan điểm hiện đại về phòng chống thiên tai cho rằng, giảm nhẹ thiệt hại khi xảy ra ngập lụt là điều quan trọng không kém việc đầu tư cho công trình chống ngập. Một hệ thống cảnh báo sớm, một cơ chế điều hành hiệu quả và có đủ thẩm quyền cùng chiến lược ứng phó đúng đắn là những điều mà chúng ta đang cần.
Sau 3 tháng chìm trong cơn lũ lịch sử, Thái Lan đã phải chịu hậu quả nặng nề và mọi con số thống kê chỉ là ước tính ban đầu. Thủ tướng Yingluck hôm 17/10 cho biết quá trình tái thiết sau lũ lụt có thể tiêu tốn của Thái Lan khoảng 3,3 tỷ USD, trong khi ước tính thiệt hại kinh tế bước đầu vào khoảng 4,9 tỷ USD, tương đương với khoảng 1,3 tới 1,5% tổng sản phẩm quốc nội hàng năm.



Ít nhất 381 người đã thiệt mạng trong cơn “đại hồng thủy”, trong khi đời sống của khoảng 2,3 triệu người bị ảnh hưởng vì lũ lụt. Khoảng 113.000 người dân hiện phải sống trong 1.700 khu sơ tán được lập nên khắp Thái Lan. Trận lũ lịch sử gây ảnh hưởng trực tiếp tới một phần ba số tỉnh và ba phần tư diện tích Thái Lan, trong đó có 300.000 ha đất nông nghiệp.

Theo VnExpress

NGẬP LỤT TẠI TP HỒ CHÍ MINH: ĐI TÌM CĂN NGUYÊN


TP HCM đã bắt đầu “tuyên chiến” với tình trạng ngập lụt từ gần 10 năm nay. Tuy nhiên, sau ngần ấy thời gian đầu tư tiền của và công sức, tình trạng ngập lụt ở TP HCM nhìn chung vẫn chưa có chuyển biến gì đáng kể. TP HCM vẫn còn khoảng 100 điểm ngập.

Mặc dù 75% các điểm ngập tại TP HCM nằm tại vị trí cao hơn ít nhất 1 m so với mực nước cao nhất ghi nhận tại trạm Phú An, quy hoạch thủy lợi đã được phê duyệt đề xuất xây dựng một hệ thống đê bao dọc theo bờ Tây sông Sài Gòn với tổng chi phí lên tới 11.000 tỷ đồng để triệt tiêu ảnh hưởng của thủy triều đối với thành phố. Trong khi đó, một chuyên gia đưa ra một ước tính gây sốc rằng khả năng chứa nước tại chỗ (sông, hồ) của thành phố giảm 10 lần trong vòng 10 năm trong lúc diện tích bê-tông hóa tăng lên 2,5 lần.

Những con số này được đưa ra để cho thấy bức tranh phức tạp của vấn đề ngập lụt tại TP HCM. Mặc dù TP HCM được biết đến trên thế giới như là một trong những thành phố nhiều rủi ro nhất trước tác động của Biến đổi Khí hậu (BĐKH) và Nước-biển-dâng-cao (NBDC), nguyên nhân chính của ngập lụt hiện nay không phải là thiên tai mà là “nhân tai”. Chiến lược phát triển đô thị sai lầm, hệ thống thoát nước yếu kém và phương pháp tiếp cận nặng về giải pháp công trình đã làm trầm trọng hơn vấn đề.
Vấn đề ngập lụt trong bối cảnh quốc gia và quốc tế

Trước hết, ngập lụt không phải là một hiện tượng mới và hiếm có ở Việt Nam. Toàn bộ khu vực đồng bằng Bắc Bộ hiện nay vốn là vùng đầm lầm và chỉ có thể trở thành nơi định cư của con người khi ông cha chúng ta biết đắp đê tri thủy và làm thủy lợi để tát cạn vùng đầm lầy này. Tuy nhiên, bất chấp kinh nghiệm chống chọi hàng ngàn năm, lũ lụt vẫn là dạng thiên tai phổ biến nhất và có sức tàn phá ghê gớm nhất ở Việt Nam. Theo trang thông tin Prevention Web, lũ lụt đang ảnh hưởng đến cuộc sống của 4% dân số và gây thiệt hại 3% GDP của Việt Nam. Lũ lụt như vậy còn là một trải nghiệm phổ biến ở Việt Nam. Thực tế này có thể làm giảm tính trầm trọng của vấn đề ngập lụt tại TP HCM trong nhận thức của cộng đồng nói chung trong đó có các cơ quan chức năng bởi ngập lụt tại thành phố không gây ra thiệt hại về người và thiệt hại không đáng kể về tài sản so với lũ lụt tại các địa phương khác.

Mặc dù bức tranh lũ lụt tại Việt Nam hiện nay là nghiêm trọng và đáng lo ngại, đó có thể chưa phải là đỉnh điểm của vấn đề. Một báo cáo nổi tiếng của Ngân hàng Thế giới (Dasgupta et al 2007) cho thấy một mối đe dọa mới tới mảnh đất Việt Nam nhỏ bé: NBDC do BĐKH. Theo bản báo cáo, nếu NBDC 1 m vào cuối thế kỷ, một kịch bản được khẳng định trong nghiên cứu của Viện Khí tượng, Thủy văn và Môi trường sau đó (Tran Thuc 2009), thì hơn 10% diện tích, dân số và GDP sẽ bị đe dọa.

Những rủi ro do BĐKH tại TP HCM và trên toàn Việt Nam nhận được mối quan ngại cao độ của cộng đồng quốc tế cùng với các hỗ trợ tài chính và kỹ thuật đi kèm đối cũng có thể làm biến dạng nhận thức và cách tiếp cận tại địa phương đối với thiên tai trong đó có lũ lụt. Nếu như lũ lụt cũng như một số dạng thiên tai khác được giải thích trong hoàn cảnh BĐKH – một vấn đề môi trường toàn cầu mà một quốc gia kém phát triển như Việt Nam có rất ít trách nhiệm – thì việc giải quyết chúng rất cần có sự hỗ trợ quốc tế một cách chính đáng.

Hình 1: Bản đồ các trạm thủy văn trong lưu vực sông Đồng Nai và sông Sài Gòn.
(Nguồn: tác giả thực hiện theo số liệu của Hồ Long Phi 2010)
Thách thức phải đối mặt

Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất và là trung tâm kinh tế của cả nước với sự đóng góp 20% vào GDP quốc gia và 30% vào tổng giá trị xuất khẩu (Trung tâm Xúc tiến Đầu tư & Thương mại Tp. HCM 2008). Mặc dù có vai trò quan trọng chiến lược trong nền kinh tế quốc gia, TP HCM tuy nhiên lại nằm trên một nền đất thấp và dễ dàng bị ngập do mưa lớn, nước lũ thượng nguồn hay triều cường. Theo Trung tâm Chống ngập của thành phố, 60% diện tích toàn thành có cao độ thấp hơn 2 m trong khi mực nước cao nhất tại trạm Phú An trên sông Sài Gòn và gần trung tâm thành phố (xem hình 1) có thể đạt 1,55 m (ghi nhận vào lúc 5 giờ sáng ngày 15/12/2008). Với mực nước 1,55 m cộng thêm 1 m NBDC vào cuối thế kỷ sẽ gây ngập phần lớn diện tích thành phố. Hơn nữa, tốc độ lún gần 15 mm/năm hiện nay tại nhiều điểm trong thành phố sẽ làm trầm trọng hơn vấn đề (Tuổi Trẻ 1/12/2010). Hiện nay, cả thành phố có hơn 100 điểm ngập, tổng cộng 154/322 xã phường đã ghi nhận bị ngập lụt thường xuyên. Trong điều kiện khí hậu cá biệt như cơn bão Linda năm 1997 thì 48% dân số thành phố sẽ chịu cảnh ngập lụt (ICEM 2010). Trong tương lai, rủi ro của thành phố có thể còn trầm trọng hơn khi hệ quả của BĐKH tác động vào vùng đất này. Một báo cáo khác của Ngân hàng Thế giới (Dasgupta et al 2009) xếp TP HCM vào danh sách 25 thành phố rủi ro nhất thế giới về quy mô dân số chịu ảnh hưởng của các cơn bão liên quan tới BĐKH. Nghiên cứu của Trung tâm Quản lý Môi trường Quốc tế (ICEM 2009) dự báo tới năm 2050, 50% các nhà máy nước, 60% các nhà máy xử lý nước thải, 90% diện tích các bãi rác thải và 30% đến 70% hệ thống giao thông bao gồm đường cao tốc, cảng và hệ thống metro có nguy cơ ngập lụt. Vô hình chung, mối quan ngại địa phương về vấn đề ngập lụt trong đô thị hiện tại đã được liên hệ với nhận thức toàn cầu về rủi ro BĐKH trong tương lai.

Hình 2: Biểu đồ mực nước cao nhất tại trạm Vũng Tàu, Nhà Bè và Phú An
Đi tìm căn nguyên của ngập lụt

Trong khi cả chính quyền địa phương và chính quyền quốc gia đều tập trung nỗ lực vào việc xây dựng các công trình nhằm giảm thiểu tác động của lũ sông và triều cường tại TP HCM, căn nguyên thực sự của ngập lụt lại không nằm ở hai yếu tố thiên nhiên này. Các nguyên cứu so sánh về mực nước sông và mực nước biển, nhiệt độ bề mặt, lượng mưa và vị trí các điểm ngập đã cung cấp những bằng chứng rõ ràng để xác định nguyên nhân của vấn đề.

Hồ Long Phi (2010) là một trong những người đầu tiên trăn trở về nguyên nhân thực sự của ngập lụt tại thành phố. Ông đã so sánh số liệu thu thập từ các trạm quan trắc thủy văn khác nhau trong hệ thống sông Đồng Nai và sông Sài Gòn cũng như tại trạm Vũng Tàu (hình 2) thời kỳ 1990 – 2007. Kết quả thu được cho thấy trong khi mực nước tại Vũng Tàu không tăng và mực nước tại Biên Hòa chỉ tăng nhẹ thì mực nước tại trạm Phú An và Nhà Bè tăng đáng kể với tốc độ lần lượt là 1,45 cm/năm và 1,17 cm/năm. Bên cạnh đó, đánh giá hệ số tương quan của mực nước cao nhất hàng năm cho thấy không có sự tương quan đáng kể giữa mực nước tại Vũng Tàu và các trạm trong nội địa trong khi các trạm này lại tương quan chặt chẽ với trạm Phú An. Đồng thời phân tích của Hồ Long Phi cũng cho thấy có tương quan giữa lưu lượng xả tối đa tại thủy điện Trị An với mức nước cao nhất hàng năm tại Biên Hòa, Phú An và Thủ Dầu Một nhưng sự tương quan giữa mực nước tại các trạm này với lưu lượng xả tại hồ Dầu Tiếng là không đáng kể. Những kết quả này dẫn tới nhận định rằng xu hướng ngập lut gia tăng tại thành phố Hồ Chí Minh không gắn với hiện tượng BĐKH toàn cầu và NBDC mà với các lý do địa phương.

Hình 3: Số lần mực nước cao nhất tại Phú An vượt qua các mức và so sánh với quá trình phát triển dân số của TP HCM. (Nguồn: Hồ Long Phi 2010)

Một chỉ số khác để xem xét là xu hướng gia tăng số lần mực nước đạt mức cao nhất tại trạm Phú An. Hình 3 cho thấy từ những năm 1990, số lần mực nước đạt các mức cao nhất hàng năm tại trạm Phú An tăng lên nhanh chóng. Nếu trong năm 1995, số lần mực nước vượt mức 1,2 m là khoảng 30 lần thì con số này vào năm 2007 là 100 lần. Sự gia tăng đột biến của số lần mực nước vượt các mức trên sông Sài Gòn bắt đầu từ những năm 1990 một lần nữa khằng định hiện tượng ngập lụt tại TP HCM không thể giải thích bằng BĐKH toàn cầu.

Một giả thuyết được đặt ra là sự thay đổi cao độ và tần suất vượt các mức cao độ của mực nước tại Tp HCM có liên quan đến quá trình phát triển đô thị của thành phố. Tốc độ tăng dân số và diện tích bề mặt bê-tông hóa được xem xét. Tốc độ tăng dân số tại TP HCM từ năm 1979 tới 1989 là 1,95%, từ năm 1989 tới 1999 là 2,63% và từ năm 1999 tới năm 2005 là 4,29%. Liên hệ số lần mực nước vượt các mức cao độ với tốc độ gia tăng dân số trong hình 4, chúng ta có thể nhận thấy rằng sự gia tăng dân số nhanh chóng trong một chu kỳ 5 năm thường dẫn tới sự gia tăng đáng kể số lần mực nước vượt các mức cao độ trong chu kỳ 5 năm tiếp theo. Ví dụ như tốc độ tăng dân số cao trong thời kỳ 2001-2005 (20,7% so với 11,4% của thời kỳ 1996-2000 và 12,7% của thời kỳ 1991-1995) dẫn tới sự gia tăng đột biến (độ dốc của đồ thị) của số lần mực nước vượt các mức cao độ trong thời kỳ 2006-2007.

Hình 4: Bản đồ thể hiện diện tích bê-tống hóa bề mặt và nhiệt độ tối đa bề mặt tại TP HCM.
(Nguồn: Trần Thị Vân và Hà Lê Dương Bảo 2007)

Sự gia tăng dân số dẫn đến việc đô thị hóa tại vùng ven đô vốn trước kia sử dụng cho mục đích nông nghiệp. Hiện tượng này sau đó lại dẫn tới ngập lụt theo 2 cách: trước hết, diện tích hồ, ao và kênh, rạch bị san lấp tăng lên khiến cho khả năng chứa nước tại chỗ của khu vực này giảm xuống; sau đó, tỷ lệ diện tích bề mặt tự nhiên giảm xuống trong khi diện tích đất bi bê-tông hóa tăng lên khiến cho lượng nước chảy bề mặt gia tăng vì không thấm được vào lòng đất. Bản tin về một hội thảo chống ngập lụt tại Tp HCM cung cấp những con số gây sốc: quá trình đô thị hóa trong vòng 14 năm trở lại đây dẫn tới sự biến mất của 47 con kênh với tổng diện tích 16,4 hecta, san lấp 7,4 hecta hồ Bình Tiên, một trong số những hồ chứa quan trọng nhất của khu vực (Tuổi Trẻ ngày 27/05/2010). Một báo cáo khác tại cuộc hổi thảo nêu rõ trong vòng chỉ 8 năm 2002-2009, khả năng chứa nước của hệ thống hồ, ao và vùng ngập nước trong thành phố giảm gần 10 lần.

Việc mất diện tích bề mặt tự nhiên không chỉ diễn ra đối với đất nông nghiệp ở vùng ven mà đồng thời xảy ra đối với diện tích công viên – cây xanh trong nội đô. Trong thời kỳ 1998-2009, khu vực nội thành mất đi 50% diện tích cây xanh khiến cho tỷ lệ cây xanh trên đầu người còn vô cùng nhỏ: 0,7 m2 vào năm 2009 (trong khi đó mục tiêu tới năm 2010 đề ra trong quy hoạch chung là 6-7 m2/người). Việc chuyển đổi diện tích bề mặt tự nhiên vốn có khả năng thấm trung bình 50% lượng nước mưa thành bề mặt đô thị vốn chỉ thấm được bình quân 15% lượng nước mưa tất yếu làm gia tăng đáng kể lượng nước chảy trên bề mặt gây ra ngập lụt. Diện tích bê tông hóa bề mặt của thành phố, tuy nhiên, gia tăng nhanh hơn nhiều lần tốc độ tăng dân số. Nghiên cứu của Trần Thị Vân và Hà Dương Xuân Bảo (2007) cho thấy trong vòng 17 năm, từ 1989 tới 2006, diện tích bê-tông hóa bề mặt gia tăng 305,5% từ hơn 6000 hecta vào năm 1990 lên tới 24.500 hecta vào năm 2006, trong khi dân số thành phố chỉ tăng 79,5% trong thời kỳ 1990 – 2010.

Việc gia tăng diện tích bề mặt bị bê-tông hóa không chỉ làm gia tăng lượng nước mưa chảy trên bề mặt vì không thể thấm xuống lòng đất, làm giảm lượng nước ngầm và gây lún cho đô thị, mà còn tạo ra hiệu ứng đảo nhiệt. Số liệu tại trạm Tân Sơn Hòa cho thấy nhiệt độ bề mặt tại TP HCM tăng trung bình hằng năm 0,18 độ C trong thời kỳ 1977-1986, 0,26 độ C trong thời kỳ 1987-1996 và 0,34 trong thời kỳ 1997-2006. Trong khi đó số liệu cùng thời điểm tại vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ là 0,13, 0,14 và 0,16 độ C. Vẫn nghiên cứu của Trần Thị Vân và Hà Dương Xuân Bảo (2008) cho thấy sau 17 năm, nhiệt độ bề mặt tối đa ghi nhận được tại thành phố này tăng thêm khoảng 10 độ C (từ 39,8 độ C năm 1989 lên 49,4 độ C năm 2006). Sự thay đổi về nhiệt độ bề mặt, và do đó nhiệt độ không khí, làm gia tăng cả về số lượng và quy mô những cơn mưa nhiệt đới trong khu vực. Số liệu thống kê lượng mưa từ năm 1988 tới năm 2006 tại trạm Tân Sơn Hòa cho thấy một quá trình gia tăng liên tục số lượng các cơn mưa cực lớn, phù hợp với quá trình gia tăng nhiệt độ bề mặt tại thành phố.

Như vậy vấn đề ngập lụt tại TP HCM không phải là hệ quá của quá trình NBDC dưới tác động của BĐKH. Thực tế là 75% các điểm ngập tại thành phố có cao độ lớn hơn 2,5 m và 70% các điểm bị ngập khi lượng mưa chỉ 40 mm và bất chấp mực nước ở Phú An thấp hay cao. Điều này có nghĩa rằng phần lớn các điểm ngập hiện nay bị ngập không vì lý do địa hình thấp hay mực nước của sông Sài Gòn lên cao.
Hình 5: Bản đồ các điểm ngập lụt tại TP HCM. (Nguồn: Hồ Long Phi 2010)
Cách tiếp cận chính thống

Trước một thực tế như vậy, cách tiếp cận từ phía chính quyền dường như vẫn còn nhiều điểm khác biệt so với giới khoa học. Báo cáo của Trung tâm Chống ngập TP HCM (2010) xác định địa hình và triều cường là hai nguyên nhân chính của vấn đề. Trong 5 giải pháp chính mà Trung tâm đề ra cho thành phố thì trừ việc bảo vệ diện tích đất nông nghiệp và hệ thống kênh rạch, các giải pháp còn lại đều là giải pháp xây dựng công trình. Bản báo cáo TP HCM thích ứng với BĐKH do ICEM (2009) thực hiện cho UBND TP HCM có đưa ra một đánh giá định lượng chi tiết về tác dụng của hệ thống đê bao bờ Tây sông Sài Gòn đối với việc bảo về thành phố trước rủi ro ngập lụt. Báo cáo mô tả hệ sống đê bao sẽ kiên cố hóa bê-tông hóa bờ sông và dần dần sẽ phá hủy khả năng lọc nước của hệ thống tự nhiên trong vùng. Bản báo cáo cảnh báo một hiện tượng đang ngày càng trở nên rõ ràng là “BĐKH cục bộ do nguyên nhân địa phương gây ra“. Báo cáo đặt ra một câu hỏi đối với hiệu quả của hệ thống đê bao: “Nếu như sự gia tăng mực nước sông và thủy triều tại khu vực TP HCM là do những thay đổi về sử dụng đất, thì hệ thống đê bao quy mô lớn có thể gia tăng rủi ro ngập lụt” và “không có những nâng cấp đáng kể hệ thống thoát nước, thì hệ thống đê bao ngăn triều chỉ có vai trò không đáng kể trong việc cải thiện tình trạng ngập lụt tại TP HCM, nhất là dưới áp lực gia tăng lượng mưa cục bộ“.

Hình 5: Bản đồ các điểm ngập lụt tại TP HCM. (Nguồn: Hồ Long Phi 2010)
Kết luận

Bất chấp rất nhiều các nỗ lực quốc tế và trong nước nhằm giải quyết tình trạng ngập lụt, vẫn chưa có một nghiên cứu hoàn chỉnh nào để giải thích đầy đủ nguyên nhân của tình trạng trên. Các nhà nghiên cứu quốc tế thường có xu hướng quan tâm đơn thuần tới rủi ro BĐKH của thành phố trong khi các đồng nghiệp địa phương thường quá chú ý tới vai trò của hệ thống sông ngòi và triều cường mà quên đi mối quan hệ giữa hình thức đô thị (urban form) và khả năng thoát nước của thành phố. Giải pháp mà các cấp chính quyền đưa ra vẫn chỉ là xây dựng hệ thống đê bao và cống ngăn triều – những giải pháp vô cùng tốn kém nhưng lại không giúp giải quyết bản chất vấn đề. Thực tế là mực nước cao nhất tại Vũng Tàu và Biên Hòa không có thay đổi hoặc thay đổi không đáng kể trong khi mực nước cao nhất tại trạm Phú An, trung tâm TP HCM, cùng với các trạm khác trong nội địa, gia tăng liên tục và được gọi dưới cái tên “triều cường”. Sự thay đổi đột biến này là hậu quả của quá trình đô thị hóa tự phát hoặc đô thị hóa dưới những chính sách sai lầm về vị trí phát triển và cách thức phát triển. Điển hình là sự phát triển mạnh mẽ về phía Nam thành phố trên nền đất yếu và thấp hay sự phát triển tự phát hai bên bờ sông Sài Gòn về phía thượng lưu đã khiến cho hàng ngàn diện tích chữa nước bị biến mất. Trong giới hạn của bài viết này, giải pháp chống ngập chưa có điều kiện đề cập chi tiết. Tuy nhiên nếu đồng ý rằng nguyên nhân chính gây ra ngập lụt trên diện rộng tại thành phố là cách thức phát triển đô thị thì giải pháp chủ đạo phải là tiếp cận “mềm” thông qua công cụ chính sách.

Tiếp cận “mềm” ở đây là việc thông qua các quy định và chính sách khuyến khích nhằm gia tăng khả năng thoát nước tại chỗ như quy định diện tích bề mặt tự nhiên tối thiểu trong mỗi lô đất, yêu cầu các công trình lớn phải có bể chứa nước mưa, xây dựng “vỉa hè xanh”, xây dựng các điểm trữ nước tạm thời khi mưa lớn xảy ra, chiếm lĩnh những không gian xanh còn chưa bị đô thị hóa ven sông để mở rộng lòng sông hoặc xây dựng những công viên có khả năng chứa nước, … Chỉ phụ thuộc vào giải pháp xây dựng công trình, vấn đề sẽ không được giải quyết triệt để mà thậm chí còn trở nên trầm trọng hơn. Hệ thống đê bao dọc bờ Tây sông Sài Gòn sẽ chỉ giảm ngập cho những khu vực thấp vốn chỉ chiếm 30% tổng số điểm ngập toàn thành nhưng lại làm cho chính những khu vực này ngày càng lún và gia tăng rủi ro ngập cho bờ Đông hoặc phía Đồng Nai.

Chuẩn bị cho tương lai BĐKH và NBDC là cần thiết. Tuy nhiên nếu hình thức đô thị và hệ thống hạ tầng và quan trọng hơn là nhân thức của con người không đáp ứng được những thách thức của ngày hôm nay thì làm sao những nhân tố này có thể đối đầu với thách thức trong tương lai.

Tác giả cảm ơn thạc sĩ Hồ Long Phi đã đọc và góp ý cho bài viết

Nguyễn Đỗ Dũng - Quy hoạch sư trưởng, Công ty tư vấn Thanh Bình

Tài liệu tham khảo

Dapice, D., Gomez-Ibanez, J. and Nguyen, T. (2009). Ho Chi Minh City: The Challenges of Growth. UNDP – Harvard Policy Dialogue Papers. Hanoi, VN: Unied Nations Development Programme in Vietnam

Dasgupta, S. & Laplante, B. & Murray, S. & Wheeler, D. (2009). Climate Change and Future Impacts of Storm-Surge Disasters in Developing Countries. CGD Working Paper 182.Washington, DC: Center for Global Development

Dasgupta, S. et al (2007). The impact of Sea Level Rise on Developing Countries: A comparative analysis. World Bank Policy Research Working Paper 4136, February 2007

Einsiedel, N. and Bendimerad, F. and Rodil, A. and Deocariza, M. (2010). The challenge of urban redevelopment in disaster-affected communities. Environment and Urbanization Asia 2010 1: 27

Harmeling, S. (2010). Global Climate Risk Index 2010: Who is most vulnerable? Weather-related loss events since 1990 and how Copenhagen needs to respond. Bonn, Germany: Germanwatch

Ho Chi Minh City People’s Committee (2010). Urban Planning & Development: Responses to Climate Change: Adaptation and Mitigation. Pacific Rim Council on Urban Development – Ho Chi Minh City Roundtable Forum 2010.

Ho Long Phi (2007) “Climate Change and urban flooding in Ho Chi Minh City”. Proceedings of the Third International Conference on Climate and Water 3-6 September 2007, Helsinki, Finland, pp.194-199.

International Monetary Fund (2010). World Economic Outlook Database, April 2010. Retrieved at 5 p.m. December 3rd, 2010 from http://www.imf.org/external/pubs/ft/weo/2010/01/weodata/weorept.aspx?sy=2007&ey=2010&scsm=1&ssd=1&sort=country&ds=.&br=1&c=582&s=NGDPD%2CNGDPDPC%2CPPPGDP%2CPPPPC%2CLP&grp=0&a=&pr.x=71&pr.y=7#download

International Centre for Environmental Management (ICEM) (2009). Ho Chi Minh City Adaptation to Climate Change (4th Draft). Retrieved at 9 a.m., December 1st, 2010 from http://www.icem.com.au/02_contents/03/03_19_climatechange.htm

Kaufmann, R., Seto, K., Schneider, A., Zouting, L., Liming, Z., & Wang, W. (2007). Climate Response to Rapid Urban Growth: Evidence of a Human-Induced Precipitation Deficit. Journal of Climate, 20(10), 2299-2306.

Meulder, B. & Shannon, K. (2008). Water Urbanisms. Amsterdam, NL: SUN

Meyer, H., Waggonner, D. and Morris, D. (2010). Dutch Dialogues – New Orleans Netherlands. London, UK: SUN

Rotterdam Climate Initiative (2009). 2009 Adaptation Programme. Retrieved fromhttp://www.rotterdamclimateinitiative.nl/en/about_rotterdam_climate_initiative/rotterdam_climate_initiative/publications

Shannon, K (2008) Water urbanism: Hydrological infrastructure as an urban frame in Vietnam in Feyen, J., Shannon, K. and Neville, M. (eds.) (2009). Water and Urban Development Paradigms: Toward an Integration of Engineering, Design and Management Approaches. London, UK: Taylor & Francis Group.

Shepherd, M. and Burian, S. (2003). Detection of Urban-Induced Rainfall Anomalies in a Major Coastal City.Earth Interact., 7, 1–17.

Tucci, C. (2007). Urban Flood Management. Retrieved from World Meteorological Oganization’s websitehttp://www.wmo.int/apfm/

PreventionWeb (2010). Vietnam Risk Profile. Retrieved at 9 a.m. in December 1st, 2010 from http://www.preventionweb.net/english/countries/statistics/risk.php?iso=vnm

Vien Nghien Cuu Kinh Te Thanh pho Ho Chi Minh – VKT (Ho Chi Minh City’s Institute of Economic Research) (2006). Conference Report: Urban flooding in Ho Chi Minh City – Causes and Solutions. Retrieved at 7 a.m. November 20th, 2008 from http://www.vienkinhte.hochiminhcity.gov.vn/xemtin.asp?idcha=3818&cap=4&id=3822

ĐỒ ÁN QUY HOẠCH VÙNG PHÁT TRIỂN PHƯỚC GIANG


Vị trí và liên hệ vùng của Phước Giang trong vùng đô thị Đông Nam Bộ

Tạp chí Quy hoạch Đô thị, số 5, 2011

Cuối năm 2010, được sự đồng ý của UBND Tỉnh Đồng Nai, công ty Phát triển Khu Công nghiệp Biên Hòa (Sonadezi) tổ chức cuộc thi quy hoạch cho một vùng nông nghiệp rộng 3249 hecta nằm phía Bắc thành phố Biên Hòa và tả ngạn sông Đồng Nai. Với tên gọi “Cuộc thi ý tưởng thiết kế quy hoạch chung tỷ lệ 1/5000 Khu đô thị Phước Giang, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai”, nhà tổ chức không dấu giếm tham vọng biến vùng đất đẹp và thưa thớt dân cư thuộc 4 xã phía Tây của huyện Vĩnh Cửu thành một “khu đô thị”. Đề bài cuộc thi đặt ra những yêu cầu chiến lược như sau:

1 – Tận dụng điều kiện tự nhiên;

2 – Bảo tồn công trình tôn giáo, văn hóa, loại hình nhà vườn sinh thái đặc trưng của địa phương, tổ chức tái định cư tại chỗ cho người dân;

3 – Kết nối với Khu công nghiệp và Khu dân cư hiện hữu cũng như thành phố Biên Hòa và Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam;

Với một không gian rộng lớn tương đương diện tích thành phố Vũng Tàu hay bốn quận nội thành cũ của Hà Nội và vượt ngoài tầm bao quát thị giác của “thiết kế”, với lượng dân cư thưa thớt (23.000 người) chủ yếu làm nông nghiệp và vị trí “ngõ cụt” trong vùng, cuộc thi mang đến một cơ hội đặc biệt cho những người tâm huyết với quy hoạch tổng hợp (comprehensive planning) để tìm ra một lời giải toàn diện cho sự phát triển của Phước Giang. Với một đội ngũ đa ngành từ kiến trúc sư, quy hoạch sư tới kỹ sư giao thông và nhà kinh tế, chúng tôi nghiên cứu đồ án với tinh thần cầu thị, cởi mở và mong muốn giới thiệu những cách tiếp cận khác trong quy hoạch tại Việt Nam.

Bảy thách thức

Chúng tôi xác định bảy thách thức chính cho sự thành công của Phước Giang:

1. Vị trí: Trong vùng Đông Nam Bộ, Phước Giang dường như nằm ngoài rìa của sự phát triển vốn đang tập trung dọc theo 2 tuyến quốc lộ số 1 (Tp. HCM – Biên Hòa) và số 13 (Tp. HCM – Bình Dương). Tuy nhiên, nếu xét tiểu vùng Bình Dương – Đồng Nai thì Phước Giang lại nằm ở vị trí trung tâm của vùng công nghiệp này. Ở một góc nhìn khác, Phước Giang nằm giữa đường vành đai 3 và đường vành đai 4 của Vùng Kinh tế Trọng điểm Đông Nam Bộ là nơi tập trung nhiều dự án phát triển đô thị mới quan trọng. Tuy vậy, khả năng tiếp cận trực tiếp từ Phước Giang tới hệ thống giao thông và hạ tầng cấp vùng (vd: sân bay, bến cảng) là hết sức khó khăn so với những dự án đô thị này.

2. Môi trường: Mặc dù là vùng đất nông nghiệp xanh tươi, Phước Giang không phải không có những rủi ro về môi trường do nằm về phía bắc vành đai công nghiệp Nam Bình Dương – Biên Hòa. Phước Giang cũng nằm kề cận xã Thạnh Phú là nơi bắt đầu có các hoạt động công nghiệp. Đối lập với thách thức này là vai trò của Phước Giang trong vành đai sinh thái quan trọng nhất vùng Đông Nam Bộ dọc theo sông Đồng Nai và kết nối hai khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng là Vườn quốc gia Nam Cát Tiên và rừng ngập mặn Cần Giờ. Những đặc này khiến cho việc bảo tồn sinh thái, bảo vệ nguồn nước và tránh phát triển cuối hướng gió từ vùng công nghiệp trở nên quan trọng hàng đầu đối với Phước Giang.

3. Ngập lụt: Trong tương lai, khu vực Tây Nam (xã Bình Hóa) và một số điểm trũng tại Phước Giang sẽ có nguy cơ ngập lụt từ 0.5 đến 2m vào giữa thế kỷ 21 do tác động của nước biển dâng cao và việc triển khai xây dựng đê bảo vệ TP HCM về phía hữu ngạn sông Đông Nai. Do đó việc phân vùng phát triển trong khu Phước Giang cần cân nhắc yếu tố lũ lụt đồng thời cần có những hệ thống hạ tầng đa chức năng để giúp giảm thiểu rủi ro thiên tai vì chỉ tập trung vào xây dựng hệ thống đê điều.

4. Nền tảng Kinh tế: Bất chấp sự phát triển sôi động các khu công nghiệp và đô thị bên kia bờ sông Đồng Nai phía huyện Tân Uyên (Bình Dương), Phước Giang vẫn là một vùng nông thôn bình yên. Điều này đặt ra câu hỏi về nhu cầu đô thị hóa tại khu vực cũng như nền tảng kinh tế nào cho “khu đô thị Phước Giang” tương lai? Trong bối cảnh cả Bình Dương và Đồng Nai đều đang cạnh tranh trong vai trò là “ngoại ô” sản xuất của TP HCM, Bình Dương bứt phá với việc đầu tư vào “chất lượng sống tốt” (tiện ích đô thị: bệnh viện, trường học, nhà hát,v.v…) nhằm thu hút nhân lực cấp cao thì Phước Giang có thể tận dụng vị trí địa lý sẵn có để tạo cơ hội cho Đồng Nai thực hiện cùng một chiến lược nhưng với chiến thuật khác.

5. Ranh giới đô thị và nông thôn: Bài học phát triển đô thị bền vững trên thế giới cho thấy ranh giới đô thị và nông thôn cần được xác lập rõ ràng. Một ranh giới rõ ràng như vậy nhằm đảm bảo cung cấp hạ tầng và dịch vụ đô thị có hiệu quả, vừa bảo vệ môi trường, vừa gia tăng chất lượng sống của cư dân đô thị. Bằng việc bảo tồn cảnh quan nông thôn và thiên nhiên, dự án Phước Giang có thể đạt giá trị bất động sản cao đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Trái lại sự phát triển đô thị tràn lan (urban sprawl) và nhảy cóc (leap-frog) như ở nhiều đô thị nước ta, đặc biệt là thành phố Biên Hòa dẫn tới việc chính quyền không thể cung cấp hiệu quả các dịch vụ đô thị thiết yếu (điện, nước, nước thải, thu gom rác, cứu hỏa, cứu thương,v..v…).

6. Môi trường sống ở nông thôn xuống cấp: Tình trạng đô thị hóa tự phát tại chỗ, gia tăng dân số và mật độ xây dựng trong khi hạ tầng không phát triển tương thích dẫn đến các hiểm họa về môi trường và giảm sút chất lượng sống ở nông thôn. Ở nhiều địa phương bây giờ, thói quen sử dụng các sản phẩm công nghiệp, đặc biệt là túi nylon, dẫn đến vấn đề ứ đọng rác thải do không có bãi gom và xử l‎ý rác.

7. Nguy cơ thất bại dựa trên phương pháp quy hoạch truyền thống: phương pháp quy hoạch vẫn đang được áp dụng tại nước ta chịu ảnh hưởng nặng nề của Chủ nghĩa hiện đại trong quy hoạch do Le Courbusier đề xuất từ nửa đầu của thế kỷ 20 vốn đã bị thế giới phê phán và từ bỏ. Phương pháp này coi nhẹ đặc điểm hiện trạng khu đất (bao gồm cả yếu tố vật chất và văn hóa) và đồng nghĩa quy hoạch với thiết kế mà quên đi vai trò của các công cụ phi-thiết kế khác trong việc phát triển đô thị. Phương pháp này chỉ khả thi khi triển khai một dự án bất động sản trên một diện tích nhỏ, trong thời gian ngắn, bởi một chủ đầu tư duy nhất và mảnh đất không có một lịch sử dày dặn. Phước Giang cần nhiều công cụ quy hoạch phi-thiết kế dựa trên một tầm nhìn được chia sẻ nhằm đạt được một sự tổng hòa về quyền lợi giữa người dân, chính quyền và nhà đầu tư.

Tổ chức không gian và kết nối toàn vùng và quy hoạch sử dụng đất cấp vùng

Chiến lược phát triển

Với đồ án quy hoạch vùng phát triển Phước Giang, nhóm thực hiện tại Công ty Tư vấn Thanh Bình đã đưa ra 5 chiến lược phát triển chính cho khu vực giàu tiềm năng nhưng cũng nhiều thách thức này:
Bảo tồn đất nông nghiệp làm nền tảng phát triển kinh tế, thu hút du lịch, nâng cao giá trị bất động sản và thích nghi với biến đổi khí hậu.
Kết nối với Bình Dương và Biên Hòa để trở thành trung tâm vùng công nghiệp.
Cung cấp tiện ích Văn hóa – Thể thao cấp vùng nhằm tạo ra một cộng đồng sáng tạo và khỏe mạnh đồng thời trở thành tâm điểm của toàn vùng.
Dựa vào các kịch bản phát triển cho Phước Giang để xác định những khu vực đô thị hóa, mức độ đô thị hóa và những khu vực ưu tiên phát triển.
Thành công bằng cách tạo ra chất lượng sống tốt cho tất cả mọi người và dựa trên di sản thiên nhiên và lịch sử.

Các quy định cơ bản của quy-hoạch-định-dạng cho vùng Phước Giang

Bản đồ quy-hoạch-định-dạng cho vùng Phước Giang

Giải pháp tổ chức và kết nối không gian

1. Xây dựng một chuỗi các đô thị tại các vị trí chiến lược về cảnh quan và hạ tầng và trong vòng bán kính đi bộ 800m thay vì dàn trải để bảo tồn cảnh quan nông nghiệp, môi trường thiên nhiên và tối đa số công trình và dân số có thể tiếp cận với những cảnh quan này, do đó mà gia tăng giá trị đất đai.

2. Các khu dân cư nông thôn được kiểm soát mật độ để đảm bảo khả năng trung hòa của môi trường đối với chất thải sinh hoạt đồng thời dùng những khu đô thị mới để thu hút nhu cầu đô thị hóa tại địa phương. Bên cạnh đó, thiết kế đô thị với những công cụ tinh tế nhất được sử dụng để tạo ra những thành phố mới sẽ mang cảm hứng cho cư dân và du khách dựa trên những di sản sẵn có của địa phương: mặt nước và những cánh đồng.

3. Xây dựng các đô thị mới và cải tạo các khu dân cư hiện hữu tại điểm giao nhau của các tuyến giao thông quan trọng (đường bộ và đường thủy) nhằm thu hút nhu cầu đô thị hóa tại chỗ và gia tăng khả năng tiếp cận toàn vùng cho các hoạt động kinh tế tại đây.

4. Tập trung phát triển phía Tây Phước Giang dọc theo tả ngạn sông Đồng Nai để: 1) khai thác nhu cầu phát triển và các hoạt động kinh tế mạnh mẽ phía Bình Dương; 2) khai thác khả năng kết nối giao thông với thành phố mới Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh (cả đường bộ và đường sông); 3) bảo tồn cảnh quan nông nghiệp phần phía Đông Phước Giang và bảo vệ nguồn nước thượng nguồn sông Đồng Nai; 4) tránh xa các khu công nghiệp vốn nằm ở đầu gió Đông Nam phía Nam và Đông Phước Giang; 5) chiếm lĩnh khu vực có nguy cơ phát triển các hoạt động du lịch tự phát do vị trí thuận lợi.

5. Không phát triển tại các khu vực thấp để tránh nguy cơ bị ngập do lũ và thủy triều và tại các khu vực trũng để tránh nguy cơ bị ngập do mưa lớn. Những khu vực thấp và trũng đồng thời cũng là những khu vực trồng lúa nước do đó chiến lược này đồng thời bảo tồn cảnh quan nông nghiệp và bảo vệ tiềm năng du lịch của khu vực – lợi thế cạnh tranh quan trọng của Phước Giang.

6. Hệ thống giao thông vùng đi qua Phước Giang bao gồm đường vành đai thành phố Biên Hòa, đường Đồng Khởi nối dài và đường nối sang Bình Dương cần phải được thiết kế nhằm tối đa hóa tiềm năng và hiện thức hóa các chiến lược phát triển nêu trên. Việc mở thêm tuyến nối với Bình Dương về phía Bắc thông qua thị trấn Uyên Hưng là cần thiết để tiếp cận với sự phát triển công nghiệp mạnh mẽ phía Tân Uyên và rút ngắn khoảng cách tới đường vành đai 4 của toàn vùng đô thị Đông Nam Bộ. Kết nối Phước Giang với các thành phố khác ở Đồng Nai bằng hệ thống buýt tốc hành BRT[i].

Hệ thống BRT cho Phước Giang và vùng đô thị Tây Đông Nai

Bản đồ minh họa mặt bằng phương án quy hoạch vùng Phước Giang

Phương pháp quy hoạch

Để chuyển những chiến lược phát triển thành giải pháp thiết kế đối với một dự án quy hoạch chung mang yếu tố vùng, nhóm tư vấn đề xuất một chương trình quy hoạch 2 lớp (layer):

- Lớp quy hoạch phân khu chức năng cấp vùng (function-based planning) gần gũi với phương pháp quy hoạch truyền thống tại Việt Nam. Lớp này nhằm đưa ra một khung quản lý sử dụng đất trong vùng hướng tới sự cân bằng giữa phát triển đô thị và bảo tồn cảnh quan thiên nhiên và khu vực nông thôn.

- Lớp quy hoạch định dạng (form-based planning) theo phương pháp transect planning[ii] nhằm tạo ra tạo ra những môi trường tổng hòa theo từng đặc điểm khu vực sinh sống (nông thôn, ngoại ô hoặc trung tâm đô thị). Phương pháp này nhấn mạnh tới thiết kế đô thị thân thiện với con người và khuyến khích sử dụng đất hỗn hợp. Quy hoạch định dạng có thể mang tính pháp lý dưới dạng một bộ quản lý quy hoạch dựa vào SmartCode[iii]. Tính hoàn thiện và chặt chẽ của SmartCode cho phép đô thị phát triển hài hòa và bền vững mà không cần phải bản vẽ hóa tất cả các chi tiết của đô thị.

Quy hoạch đô thị phải đối mặt với những vấn đề của quá khứ, hiện tại và tương lai. Bản Quy hoạch vùng Phước Giang là nỗ lực của chúng tôi trong hoàn cảnh Việt Nam nhằm đối mặt với những vấn đề của một địa phương đang trong quá trình công nghiệp hóa và đáp ứng mục tiêu của nhà đầu tư. Xin trân trọng giới thiêu tới các bạn Bản quy hoạch Vùng phát triển Phước Giang do Công ty Tư vấn Thanh Bình thực hiện.

Quy hoạch sư Nguyễn Đỗ Dũng, Tiến sĩ quy hoạch vùng Nguyễn Lưu Bảo Đoan, Kiến trúc sư Nguyễn Phương Nga, Kỹ sư Nguyễn Quang


Minh họa thiết kế khu đô thị số 4 trong vùng Phước Giang



[i] BRT hay Bus Rapid Transit là khái niệm chỉ hệ thống sử dụng xe buýt chạy trên đường giành riêng nên đạt tốc độ cao hơn xe buýt thường và có hệ thống nhà ga, trạm dừng có hệ thống kiểm soát vé nhằm rút ngắn thời gian dừng của xe. Mục đích của hệ thống BRT là tạo ra chất lượng dịch vụ tương đương GTCC dựa vào đường sắt nhưng với chi phí thấp và tính linh hoạt cao của xe buýt.


[ii] Dựa vào nghiên cứu về sinh thái học, Transect, dịch nôm na là một lát cắt địa lý, đã trở thành một công cụ để hiểu hệ thống định cư phức tạp của con người. Transect Planning phân chia một thành phố thành từng khu vực theo mức độ “đô thị” để có thể quản lý và quy định về kiến trúc và cảnh quan nhằm nhấn mạnh đặc thù và tạo ra môi trường tổng hòa trong mỗi khu vực.

QUYẾT ĐỊNH 1890/QĐ-UBND Chấp thuận đề xuất dự án "Dự án BOT đường 768" theo hình thức BOT trong nước


ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Số: 1890/QĐ-UBND

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----- o0o -----
              Ngày 12 Tháng 06 năm 2008
QUYẾT ĐỊNH
Chấp thuận đề xuất dự án "Dự án BOT đường 768" theo hình thức BOT trong nước
_____________________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003;
Căn cứ Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về việc quản lý chất lượng công trình;
Căn cứ Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về quản lý đầu tư xây dựng công trình;
Căn cứ Nghị định số 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2005/NĐ-CP về quản lý đầu tư xây dựng công trình;
Căn cứ Nghị định số 78/2007/NĐ-CP ngày 11/5/2007 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao, hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh, hợp đồng xây dựng - chuyển giao;
Căn cứ Nghị định số 99/2007/NĐ-CP ngày 13/6/2007 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình;
Căn cứ Thông tư số 05/2007/TT-BXD ngày 25/7/2007 của Bộ Xây dựng hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình;
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Giao thông Vận tải tại Tờ trình số 1016/TTr-SGTVT ngày 02/6/2008 về việc phê duyệt đề xuất dự án tổ hợp đường ĐT 768 theo hình thức BOT trong nước,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Chấp thuận đề xuất dự án “Dự án BOT đường 768” do Công ty Cổ phần Sonadezi Châu Đức đề xuất triển khai thực hiện với các nội dung chủ yếu như sau:
1. Tên dự án: Dự án BOT đường 768.
2. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: UBND tỉnh ủy quyền cho Sở Giao thông Vận tải Đồng Nai.
3. Tổ chức lập đề xuất dự án: Công ty Cổ phần Sonadezi Châu Đức.
4. Mục tiêu xây dựng: Đầu tư mở rộng tuyến đường ĐT 768, đường Đồng Khởi, đường Nhà máy nước Thiện Tân hiện hữu, mở mới đường ĐT 768B, đường song hành Nhà máy nước Thiện Tân và đường từ đường ĐT 768 đến chân cầu Thủ Biên theo quy hoạch giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
5. Địa điểm xây dựng: Thành phố Biên Hòa và huyện Vĩnh Cửu - tỉnh Đồng Nai.
6. Phạm vi dự án: Tổng chiều dài 50,7 km; trong đó:
+ Đường ĐT 768: Điểm đầu: Ngã ba Gạc Nai, điểm cuối: Cầu Thủ Biên, dài 17,039 km.
+ Đường dẫn vào cầu Thủ Biên: Điểm đầu: Từ đường ĐT 768, điểm cuối: Chân cầu Thủ Biên, dài 880m.
+ Đường ĐT 768B: Điểm đầu: Đường vào Nhà máy Xi măng Bửu Long, điểm cuối: Giao với đường Nhà máy nước Thiện Tân, dài 11,615 km.
+ Đường Nhà máy nước Thiện Tân: Điểm đầu: Giao với QL1A, điểm cuối: Giao với đường ĐT 768, dài 7,5 km.
+ Đường song hành Nhà máy nước Thiện Tân: Điểm đầu: Giao với QL1A, điểm cuối: Giao với đường ĐT 768, dài 7,5 km.
+ Đường Đồng Khởi: Điểm đầu: Ngã tư Tân Phong, điểm cuối: Giao với đường ĐT 768, dài 6,169 km.
7. Diện tích sử dụng đất: Tổng diện tích chiếm đất của dự án khoảng 948.800,5m2; trong đó:
+ Đường ĐT 768 hiện hữu: 234.364,5m2.
+ Đường dẫn vào cầu Thủ Biên: 58.035m2.
+ Đường ĐT 768B: 348.450m2.
+ Đường Đồng Khởi: 122.935m2.
+ Đường Nhà máy nước Thiện Tân: 67.581m2.
+ Đường song hành Nhà máy nước Thiện Tân: 9.761m2.
+ Diện tích đất cho các trạm thu phí: 4.800m2.
8. Quy mô công trình:
+ Đường ĐT 768 chiều dài 17,039 km:
* Đoạn từ ngã ba Gạc Nai đến đường vào Nhà máy Xi măng Bửu Long dài 2,067 km, có quy mô mặt đường 14m, vỉa hè mỗi bên rộng 5m. Lộ giới rộng 24m.
* Đoạn từ đường vào Nhà máy Xi măng Bửu Long đến đường vào Nhà máy nước Thiện Tân dài 12,932 km, mặt đường rộng 7,5m, lề mỗi bên 1,5m.
* Đoạn từ đường vào Nhà máy nước Thiện Tân đến cầu Thủ Biên dài 2,04 km, mặt đường rộng 14m, vỉa hè mỗi bên 5m. Lộ giới rộng 24m.
+ Đường dẫn vào cầu Thủ Biên dài 880m, mặt đường rộng từ 14 - 20m.
+ Đường ĐT 768B dài 11,615 km, mặt đường rộng 14m, lề đường mỗi bên rộng 8m. Lộ giới 30m.
+ Đường Nhà máy nước Thiện Tân dài 7,5 km, mặt đường rộng 6m, lề đường mỗi bên rộng 1,5m.
+ Đường song hành Nhà máy nước Thiện Tân dài 7,5 km, mặt đường rộng 7,5m, lề đường mỗi bên rộng 1,5m.
+ Đường Đồng Khởi chiều dài 6,169 km:
* Đoạn từ ngã tư Tân Phong đến Bệnh viện Lao, dài 1,5 km đã thi công hoàn chỉnh, mặt đường rộng 20m, vỉa hè bên 4m, bên 5m, giải phân cách giữa rộng 2m.
* Đoạn từ Bệnh viện Lao đến ngã ba Thiết Giáp, dài 0,4 km, mặt đường rộng 20m, vỉa hè bên 4m, bên 5m, giải phân cách giữa rộng 2m.
* Đoạn từ ngã ba Thiết Giáp đến giao với đường ĐT 768 dài 4,269 km, mặt đường rộng 12m, lề mỗi bên 1,5m.
- Các cầu trên tuyến ĐT 768 hiện hữu: Tiến hành kiểm định và nâng cấp, cải tạo các cầu hiện hữu trên tuyến với quy mô mặt cầu rộng 14m.
- Các nút giao: Xây dựng các nút giao bằng có đảo phân luồng giao thông, riêng nút giao đường Nhà máy nước Thiện Tân và đường song hành Nhà máy nước Thiện Tân giao với QL1A sẽ nghiêu cứu cụ thể trong giai đoạn sau và có sự thỏa thuận với Bộ Giao thông Vận tải.
- Các công trình dịch vụ khác:
+ Trạm thu phí: Dự kiến xây dựng 4 trạm thu phí bao gồm: Trạm thu phí ngã ba Gạc Nai, trạm thu phí gần cầu Đồng Khởi, trạm thu phí gần cầu Thủ Biên và trạm thu phí hiện hữu trên đường Nhà máy nước Thiện Tân.
+ Nhà điều hành quản lý khai thác: 1 vị trí tại khu vực trạm thu phí đường Nhà máy nước Thiện Tân.
9. Giải phóng mặt bằng và tái định cư:
- Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng và phương án di dời dân tuân thủ theo các quy định của pháp luật.
- Nhà đầu tư sẽ phối hợp với UBND thành phố Biên Hòa, UBND huyện Vĩnh Cửu, Trung tâm Phát triển Quỹ đất và các cơ quan ban ngành trong công tác khảo sát thống kê, bồi thường.
- UBND thành phố Biên Hòa, UBND huyện Vĩnh Cửu sẽ lập và thực hiện việc bố trí tái định cư cho các hộ dân bị giải tỏa dọc theo các tuyến đường trong dự án.
- Chi phí bồi thường và giải phóng mặt bằng được tạm tính bao gồm kinh phí bồi thường giải tỏa của các tuyến đường Đồng Khởi, đường vào cầu Thủ Biên đã được thực hiện trước và phần kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng khi dự án chính thức được triển khai, cụ thể như sau:
STT
Hạng mục
Chi phí (tỷ đồng)
1
Đường 768 hiện hữu
104,4
2
Đường 768B
66,8
3
Đường song hành Nhà máy nước Thiện Tân
83,4
4
Trạm thu phí
0,4
Tổng cộng
255,0
10. Sơ bộ tổng mức đầu tư:
Chi phí

(Triệu đồng)

I
Chi phí đầu tư xây dựng và lắp đặt thiết bị

1
Đường 768 cũ
75.0
2
Đường 768B
126.0
3
Đường Nhà máy nước Thiện Tân và đường song hành Nhà máy nước Thiện Tân
58.0
4
Đường Đồng Khởi
51.0
5
Trạm thu phí
21.0

Cộng (I)
331.0
II
Chi phí đầu tư xây dựng và thiết bị & QLDA
13.0
III
Chi phí sửa chữa và duy tu (30 năm)
51.0
IV
Chi phí khác
6.0
V
Chi phí dự phòng
40.0

Cộng (I ® V)
441.0
VI
255.0

Tổng cộng (I ® VI)
696.0
11. Nguồn vốn đầu tư:
- Chi phí lập đề xuất dự án: Công ty Cổ phần Sonadezi Châu Đức.
- Chi phí Giải phóng mặt bằng – tái định cư: Ngân sách tỉnh hỗ trợ thực hiện dự án.
- Chi phí xây dựng công trình: Vốn nhà đầu tư BOT.
12. Phương án tài chính:
- Thời gian hoạt động của doanh nghiệp dự án khoảng 30 năm. Các chỉ tiêu tài chính và thời gian thu phí sẽ được chuẩn xác trong bước lập dự án đầu tư và đàm phán hợp đồng.
13. Thời gian thực hiện:
Tiến độ thực hiện

Bắt đầu
Hoàn thành

A
Đường 768 hiện hữu



1
·1 Đoạn từ đường ngã 3 Gạc Nai - ngã 3 đường Nhà máy nước Thiện Tân
24
12/2009
12/2011
2
·2 Đoạn từ ngã 3 đường Nhà máy nước Thiện Tân - đường vào cầu Thủ Biên
10
02/2009
12/2009
3
·3 Đường dẫn vào cầu Thủ Biên
07
07/2008
02/2009
B
Đường 768B



1
·4 Đoạn từ ngã 4 đường vào Nhà máy Xi măng Bửu Long - đường Đồng Khởi
11
01/2010
12/2010
2
·5 Đoạn từ đường Đồng Khởi - đường Nhà máy nước Thiện Tân
12
12/2010
12/2011
C
Đường Đồng Khởi (đoạn từ Bệnh viện Lao - ngã 3 Thiết Giáp)
04
01/2009
05/2009
D
Đường Nhà máy nước Thiện Tân (phần chiếu sáng)
07
05/2011
12/2011
E
Đường song hành Nhà máy nước Thiện Tân
16
06/2009
12/2010
F
Trạm Thu phí



1
·6 Trạm số 1 (gần ngã 3 Gạc Nai trên đường 768 hiện hữu)
06
06/2011
12/2011
2
·7 Trạm số 2 (trên đường Đồng Khởi)
06
06/2010
12/2010
3
·8 Trạm số 3 (gần cầu Thủ Biên trên đường 768 hiện hữu)
06
06/2009
12/2009
4
·9 Trạm số 4 (trên đường Nhà máy nước Thiện Tân và đường song hành Nhà máy nước Thiện Tân)
06
06/2011
12/2011
14. Hình thức quản lý dự án:
Thực hiện theo Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về quản lý đầu tư xây dựng công trình, Nghị định số 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2005/NĐ-CP về quản lý đầu tư xây dựng công trình, Nghị định số 78/2007/NĐ-CP ngày 11/5/2007 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao, hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh, hợp đồng xây dựng - chuyển giao.
15. Một số nội dung khác: Trong bước lập dự án, khi thu thập đủ số liệu, cần tính toán cụ thể giải pháp kỹ thuật, tổ chức thi công.
Điều 2. Tổ chức thực hiện:
- Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: UBND tỉnh Đồng Nai ủy quyền cho Sở Giao thông Vận tải Đồng Nai.
- Các cơ quan có liên quan thực hiện theo chức năng và nhiệm vụ được giao.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 4. Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc các Sở: Giao thông Vận tải, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Cửu, Chủ tịch UBND thành phố Biên Hòa, Giám đốc Công ty Cổ phần Sonadezi Châu Đức, Thủ trưởng các đơn vị và cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI  
PHÓ CHỦ TỊCH  
(Đã ký)





Đinh Quốc Thái  


Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More