Sáu nghề được cho là có nhu cầu tuyển dụng cao nhất và có mức lương cao nhất trong năm 2012.


Bất chấp những kết quả dự báo đáng lo ngại về khả năng ngành điện toán đám mây tước mất những mảng việc làm truyền thống của ngành công nghệ thông tin, 2012 vẫn là một năm rất tốt cho ngành công nghệ này.


Điện toán đám mây thực sự đang tạo ra những vai trò mới cho các chuyên gia lĩnh vực công nghệ thông tin, trong khi sự gia tăng số lượng máy tính bảng và điện thoại di động thông minh được tiêu thụ bắt đầu thổi bùng nhu cầu về nhà phát triển phần mềm.


Thị trường việc làm công nghệ thông tin đã khởi sắc trong năm 2011 và sẽ tiếp tục tỏa sáng trong năm 2012 này, bất chấp những thách thức của nền kinh tế toàn cầu. Theo các giám đốc cao cấp chuyên về mảng nhân sự công nghệ thông tin, số việc làm ngành công nghệ thông tin được tuyển dụng trong năm 2012 dự kiến tăng 10-15% so với năm 2011. Đây là tin tức tốt lành cho những chuyên viên ngành công nghệ thông tin muốn thay đổi công việc.


Các chuyên gia về nhân sự công nghệ thông tin cũng chỉ ra rằng, trong năm 2012 này mức lương trong ngành công nghệ thông tin sẽ tăng sau nhiều năm chạm đáy do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008. Hơn nữa, nhà tuyển dụng giờ đây phải trả tiền cho những kỹ năng làm việc mới theo yêu cầu phát triển của ngành công nghệ thông tin.


1. Nhà phát triển ứng dụng di động


Phát triển ứng dụng cho các thiết bị di động được xem là ngành nóng nhất trong năm nay. Các chuyên gia trong lĩnh vực cung ứng nhân sự ngành công nghệ thông tin đều cho là nhóm việc làm liên quan đến thiết kế và lập trình các ứng dụng cho thiết bị di động có nhu cầu tuyển cao nhất khi mà các công ty chạy đua đưa càng nhiều ứng dụng di động cho các trang web của họ và các ứng dụng cho điện thoại thông minh và máy tính bảng.


Nhu cầu tuyển dụng các nhà phát triển ứng dụng di động tăng lên rất cao ở công ty Dice.com, nơi số lượng nhà phát triển ứng dụng cho điện thoại iPhone và Android lên đến 129 và tăng 190% trong năm 2011.
Mức lương cho nhà phát triển ứng dụng di động mới vào nghề tăng 9,1%, từ 85.000 đến 122.500 đô la Mỹ mỗi năm, trong khi mức lương của các nhà phát triển trò chơi cho thiết bị di động là từ 100.000 đến 140.000 đô la. Tuy nhiên, những người này lại thích làm việc như những nhân viên tự do. Trung bình theo giờ, một nhà phát triển ứng dụng chạy trên nền Android kiếm được từ 70 đến 100 đô la cho mỗi hợp đồng.


2. Nhà phát triển phần mềm


Các lập trình viên viết các chương trình ứng dụng trên nền máy tính cá nhân không nên thấy chạnh lòng trước ánh hào quang của các nhà phát triển ứng dụng cho thiết bị di động.


Các công ty vẫn rất cần đến những nhà lập trình thông thạo các ngôn ngữ Java, .NET, C#, SharePoint và nhà lập trình web. Java vẫn là ngôn ngữ lập trình được trọng dụng nhất vì là nền tảng mở. Sau nữa là lương. Tùy theo kinh nghiệm, các nhà viết ứng dụng Java sẽ có mức lương từ 60.000 đến 150.000 đô la mỗi năm. Mức lương trung bình theo hợp đồng dành cho nhà phát triển Java là 90 đô la/giờ, còn của nhà phát triển web là từ hơn 61.000 đến hơn 99.000 đô la.


3. Nhà thiết kế cho người tiêu dùng



Có rất nhiều ứng dụng mà các công ty đang phát triển – kể cả thiết bị máy tính cá nhân hay thiết bị di động – nhắm đến khách hàng tiêu dùng. Vì vậy, các công ty cần đến các nhà thiết kế giao diện người sử dụng hoặc hiện thực hóa các trải nghiệm của người sử dụng sao cho họ thấy các ứng dụng vui và dễ sử dụng.


Mức lương cho người gia nhập mảng thiết kế đầy cạnh tranh này đã tăng theo năm là 6,7%, từ 71.750 đến 104.000 đô la mỗi năm.


4. Chuyên gia an ninh mạng


Các công ty quy mô lớn hay nhỏ đều ưu tiên tìm kiếm những chuyên gia công nghệ thông tin có khả năng đánh bại các loại virus và tội phạm ảo. Tại Dice.com số lượng nhân viên chuyên lo mảng an ninh bảo mật tăng 141% trong năm 2011 so với năm 2010.


Việc các doanh nghiệp chuyển sang sử dụng nền tảng điện toán đám mây cũng làm nảy sinh nhu cầu về chuyên viên bảo mật hạ tầng. Cần đưa các ứng dụng lên hạ tầng điện toán đám mây, nhiều công ty sẽ tìm các chuyên viên giỏi về Internet – những người có thể xây dựng môi trường bảo mật chặt chẽ nhằm quản lý sự truy cập ra-vào môi trường hệ thống của công ty. Bên cạnh đó, những người có khả năng theo dõi và phát hiện sớm những rủi ro hệ thống của doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội tìm được một việc làm tốt trong năm nay. Mức lương trung bình theo năm của các nhân viên trong mảng bảo mật này là từ 89.000 đến 121.500 đô la Mỹ.


5. Nhà kiến trúc, nhà phân tích và xử lý dữ liệu


Lượng dữ liệu doanh nghiệp phình to sau mỗi năm khiến các doanh nghiệp đối mặt với việc sắp xếp, quản lý, phân tích và xử lý dữ liệu.


Mức lương cơ bản cho việc làm về phân tích và xử lý dữ liệu doanh nghiệp đã tăng 6,7%, từ 88.000 đến 119.000 đô la/năm trong năm 2012. Người phát triển dữ liệu doanh nghiệp có mức lương bình quân vào khoảng 120.000 đến 135.000 đô la, trong khi nhà kiến trúc dữ liệu cao hưởng lương từ 130.000 đến 160.000 đô la hoặc 80 đô la nếu tính theo giờ.


6. Chuyên gia về hạ tầng


Điện toán đám mây không loại trừ mảng việc làm về kiến trúc hạ tầng như nhiều người nghĩ. Trong năm 2012 này, điện toán đám mây tạo ra nhu cầu về tuyển dụng các kỹ sư mạng máy tính và quản trị hệ thống, như thiết lập và quản lý máy chủ ảo, môi trường lưu trữ ảo...


Sự chuyển sang nền tảng Windows 7 cũng buộc các doanh nghiệp nâng cấp hệ thống, trong khi nhiều công ty khác tìm cơ hội hợp nhất các trung tâm dữ liệu hoặc chuyển các ứng dụng lên đám mây. Mức lương trung bình theo năm của nhóm nhân sự này là từ 75.000 đến 107.750 đô la.

TBKTSG/cio.com

10 xu hướng làm việc trong năm 2012

Thay vì tới công sở làm việc với máy tính văn phòng từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Bạn có thể có thời gian linh hoạt hơn khi làm việc từ xa với laptop hay smartphone.

Dưới đây là một số thay đổi khác có thể tác động đến phương thức làm việc của bạn trong năm nay.
1. Các thiết bị di động


Ngày càng có nhiều nhân viên sử dụng iPhone, iPad hay những thiết bị điện tử cầm tay cá nhân trong công việc thay cho những chiếc máy tính để bàn hay laptop do công ty cung cấp. Đôi khi người ta gọi xu thế này là “mang theo thiết bị cá nhân” gọi tắt là BYOD. Tuy nhiên, một số công ty lo ngại không thể bảo mật thông tin và đảm bảo nhân viên của mình đang làm việc mà không đăng nhập Facebook hay chơi trò chơi ô chữ Words With Friends.





Nhưng theo các chuyên gia nghiên cứu về công sở, việc sử dụng các thiết bị di động đó cũng gây ra một số hạn chế trong việc xác định nhân viên đó đang sử dụng thiết bị gì, họ sử dụng chúng như thế nào, khi nào và ở đâu.


2. Làm việc từ xa


Nhiều công ty cho phép nhân viên làm việc từ xa, bởi nó không chỉ đem lại thời làm việc linh hoạt hơn cho nhân viên trong trường hợp công ty không muốn tăng thêm lương cho họ mà còn tiết kiệm chi phí thuê văn phòng.





Bà Kate Lister, một nhà nghiên cứu phương thức làm việc từ xa thuộc Tổ chức Nghiên cứu Phương thức Làm việc Từ xa có trụ sở đặt tại thành phố San Diego cho hay: "Phần lớn những người đi theo xu hướng này đang gần đạt hoặc đã đạt mức thang cao nhất trong công ty họ đang làm việc".


Bà cũng nói thêm: "Trước đây, người lao động thường dễ có thêm động lực làm việc nếu được tăng lương, thăng chức và tôn vinh thì nay họ lại quan tâm tới chế độ nghỉ hưu, chăm sóc cha mẹ già, cái chết và ý nghĩa cuộc sống của bản thân". Nghiên cứu của AARP cho thấy 70% số người được hỏi đều trả lời là họ muốn tiếp tục làm việc, nhưng theo cách thức của họ”.


3. Không gian văn phòng mở


Do ngày càng có ít nhân viên đến văn phòng nên các công ty đang có kế hoạch bố trí lại văn phòng theo hướng dành nhiều không gian cho khu vực chung hơn và giảm bớt diện tích dành cho không gian làm việc truyền thống.





Đặc biệt hơn, một số công ty còn quy hoạch lại toàn bộ diện tích văn phòng thành những khu vực làm việc theo nhóm như các hội trường và phòng hội thảo. Những nhân viên không làm viêc ở văn phòng cả ngày cũng sẽ có tủ khóa để cất giữ những đồ dùng cá nhân trong giờ làm việc.


4. Giao tiếp tức thời


Nhân viên đang dần xem thư điện tử là một phương thức giao tiếp kém hiệu quả, bởi tốc độ truyền thông tin chậm hơn rất nhiều so với tin nhắn văn bản, các trang mạng xã hội và các sự lựa chọn khác.

Ông Robin Richards, giám đốc điều hành và chủ tịch dịch vụ thương mại trực tuyến Tweetmyjobs, một dịch vụ tư vấn việc làm dựa trên trang mạng Twitter nói “thư điện tử đang nhanh chóng đi theo cách thức của máy fax. Hãy quan sát ngài thị trưởng của thành phố bạn. Tôi vẫn thường làm như vậy mỗi tuẫn, và tôi thấy, ngày càng có nhiều vị bắt đầu sử dụng mạng xã hội và tin nhắn văn bản trong giao tiếp. Đó là cách duy nhất các người nhân viên trao đổi, liên lạc với nhau”.


5. Công cụ cộng tác trực tuyến


Ngày càng có nhiều công ty đang sử dụng phần mềm web nhiều hơn thư điện tử trong liên lạc với những người làm việc từ xa và những người làm việc qua điện thoại. Một số công ty hiện tại đang sử dụng các chương trình như Yammer, Chatter,và Jive nhằm tạo ra những mạng kết nối riêng giống như Facebook.


Nhờ các mạng kiểu này mà các cán bộ quản lý và đội ngũ nhân viên có thể trao đổi thông tin và dữ liệu với nhau. Bên cạnh đó còn có cả những cuộc họp trực tuyến qua video và các trang mạng. Do vậy, mọi nhân viên đều cần phải biết cách sử dụng chúng trong mọi hoàn cảnh làm việc.


6. Phần mềm web


Các doanh nghiệp đang chạy theo nhu cầu của người tiêu dùng với việc sử dụng điện toán “đám mây”, bao gồm không chỉ các công cụ công tác trực tuyến mà còn cả các phần mềm web trong các hoạt động công việc hàng ngày.


Những ứng dụng đó bao gồm các cổng thông tin điện tử giúp nhân viên có thể sử dụng để kiểm tra thẻ bảo hiểm y tế hay quỹ hưu 401(k), và các ứng dụng tuyển dụng cho phép nhân viên có thể chia sẻ cơ hội việc làm với bạn bè qua Facebook, Linkeln hay Twitter. Đồng thời các ứng dụng đó cho phép các công ty đăng tuyển nhân viên trực tiếp trên các trang mạng xã hội.


7. Cố vấn ngược


Bên cạnh những chương trình đào tạo truyền thống, một số doanh nghiệp đang thiết lập các chương trình cố vấn ngược. Nghĩa là những nhân viên trẻ hướng dẫn và giúp đỡ những nhân viên lớn tuổi hơn trong việc sử dụng các phần mềm, các mạng truyền thông xã hội và các kỹ năng làm việc hiện đại khác.


8. Làm theo hợp đồng độc lập


Hiện nay không chỉ trong lĩnh vực thể thao mà trong tất cả các lĩnh vực khác, xu hướng làm việc độc lập đang ngày càng thịnh hành. Ngày càng có nhiều người lựa chọn làm việc theo hợp đồng thời vụ, không phải vì họ không tìm được công viêc toàn thời gian cố định, mà do họ muốn được làm việc độc lập như vậy.


Opendesks-một công ty mới khởi nghiệp trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ văn phòng chia sẻ hạng sang chỉ tuyển một vài nhân viên làm việc toàn thời gian cố định tại văn phòng, các nhân viên hợp đồng khác của họ làm việc tại nhiều nơi khác nhau như Montreal, New York và Sydney, Australia.

9. Văn phòng chia sẻ hạng sang

Dù đang làm việc theo hợp đồng độc lập hay làm việc toàn thời gian tại văn phòng, nhưng nhiều người làm việc chủ yếu tại nhà vẫn có thể có một bàn làm việc trong vài giờ với chi phí thấp nhưng lại được hưởng đầy đủ các dịch vụ tiện ích như phòng hội thảo, kết nối internet và các tiện nghi văn phòng tiêu chuẩn cao khác tại một văn phòng chia sẻ hạng sang.



Những văn phòng chia sẻ hạng sang kiểu như vậy mọc lên như nấm tại khắp nơi trên thế giới. Ông DiFonzo, giám đốc điều hành của Opendesks hy vọng vào cuối tháng 1, trong cơ sở dữ liệu của Opendesks sẽ có 1500 văn phòng tại 750 thành phố trên 100 quốc gia. Ông DiFonzo nhận định một lợi ích từ việc chia sẻ trong không gian chung đó là: người ngồi cạnh bạn cũng có thể cho những ý tưởng hay về sản phẩm hay thậm trí, họ có thể trở thành đối tác doanh nghiệp hay nhà cung cấp, nhà đầu tư lớn của bạn.

10. Những sáng kiến đổi mới văn hóa doanh nghiệp

Một mức lương khá cùng với những lợi ích khác không còn đủ sức hấp dẫn để thu hút hay “giữ chân” những nhân viên tài giỏi nữa. Do vậy các doanh nghiệp đang đầu tư vào những sáng kiến chú trọng đến niềm đam mê và những trải nghiệm làm việc của tất cả nhân viên.

Những sáng kiến đó bao gồm các hoạt động “xanh” hay tạo ra các sản phẩm thân thiện với môi trường, cho phép họ có thể tham gia vào các hoat động vì mục đích cộng động. Ví dụ như tập đoàn truyền thông Comast thường tham gia hoạt động gây quỹ từ thiện và tài trợ cho ngày phục vụ cộng đồng được tổ chức hằng năm với hàng vạn nhân viên cùng người thân của họ tham gia trồng cây và tham gia các hoạt động tại các thành phố có trụ sở công ty trên khắp nước Mỹ.

Theo TTVN/Entrepreneur

Chỉ có người giàu mới hiểu giá trị của tiền?

Có thể nói là tôi không ưa tiền, nếu không phải là thù ghét…. Tuy nhiên, tôi khám phá rất nhanh một điều: tất cả những gì hay những người tôi yêu thương đều “cần” và “yêu” tiền.

Kinh Thánh cũng khẳng định là “người giàu vào thiên đường khó hơn con lạc đà đi lọt qua mũi kim”.

Tôi lớn lên trong một gia đình trung bình, không nhiều tiền bạc, nhưng có một tuổi thơ tương đối êm đềm dịu ngọt. Sài Gòn những thập niên 50, 60 trong các khu phố quanh vườn Tao Đàn là những chuỗi ngày của bướm hoa và chim chóc. Rồi 3 năm trên những đối thông vắng lạnh quanh Yersin Đà Lạt cũng là những hồi ức của nô đùa, khám phá đầy tiếng cười. Bạn bè chúng tôi chỉ có một món đồ chơi duy nhất là quả bóng cao su trúng được từ một giải thưởng ở trường. Tất cả đồ chơi còn lại đều do tài sáng tạo của chúng tôi bằng các vật dụng lượm lặt quanh nhà. Tôi hoa mắt khi dẫn con nhỏ lần đầu vào Toys”R”Us để chọn quà.


Tư duy về tiền bạc

Bước vào đại học, tôi say mê với những văn phẩm nghệ thuật mang mầu sắc đấu tranh xã hội và hiện sinh từ Kafka, Camus, Kierkegaard... Tôi có một thái độ rất thịnh hành ngày đó là coi thường những doanh gia (gọi là trọc phú) và tiền bạc (như thầy giảng, không có đồng tiền nào mà không dính đến tội ác). Rồi Kinh Thánh cũng khẳng định là “người giàu vào thiên đường khó hơn con lạc đà đi lọt qua mũi kim”. Có thể nói là tôi không ưa tiền, nếu không phải là thù ghét.

Tuy nhiên, tôi khám phá rất nhanh một điều: tất cả những gì hay những người tôi yêu thương đều “cần” và “yêu” tiền.

Một lần tôi bày tỏ hăng say với một cô bạn gái, "có những thứ mà đồng tiền không mua được”. Cô cười :"Vậy là anh không biết mua thôi”. Tôi cũng cảm nhận là sau những lần thất bại trên thương trường, tôi vẫn được thỏai mái hơn khi còn chút tiền. Thật đúng như cô đào Zsa Zsa Gabor nói, “Khóc đâu cũng là khóc, nhưng tôi thích khóc trong chiếc xe Rolls Royce”.

Sự quyến rũ của tiền bạc

Tôi bắt đầu đi vào một thái cực khác. Tôi bắt đầu say đắm người vợ (tiền) mà mình đã không biết yêu khi cưới. Tôi yêu tiền như một đứa bé lần đầu bước vào tiệm kẹo. Trong các lớp tâm lý sơ đẳng, sách vở dạy rằng con người bị chi phối và thúc đẩy bởi bốn động lực chính: quyền lực, danh vọng, tiền bạc và “hóc môn” (hormones). Hóc môn là ăn, nhậu, sex và thuốc. Mỗi người một kiểu, người thích món này hơn món khác, người thích vài món, những anh chị mê cả bốn món thường vào tù rất sớm. Tôi thì chỉ thích tiền.

Suốt thời trung niên, từ năm 30 tuổi đến gần đây, tôi thấy đồng tiền là tất cả. Nó cho tôi những tác phẩm tuyệt vời như chiếc xe Lamborghini vàng tôi mua tặng mình năm sinh nhật 33 tuổi; như chiếc đồng hồ Oris Artelier vợ tôi mua cho hai đứa trong một phút ngẫu hứng tại Monte Carlo; như chiếc du thuyền Feretti tôi chia sở hữu (share ownership) với 3 người bạn khác ở Miami; như cái condo nhỏ bé dễ thương cạnh bờ biển Puerto Viejo của Costa Rica; như những bộ viết máy mang các tên huyền thọai như Mont Blanc, Cartier, Montegrappa, Visconti…tôi dã tốn công sưu tập suốt 25 năm.


Đồng tiền cũng cho tôi những trải nghiệm khó quên như chuyến du hành lạ lùng vào Tây Tạng huyền bí vào năm 1979 (rất ít người được phép thăm); như chuyến leo núi ở Cerro Castor phía nam Argentina đầy mạo hiểm (súyt bị môt trận bão tuyết chôn vùi); như lần đi dã ngoại safari ở Kenya nóng bức với một người tình Rawandan đen hơn than đá.

Tôi quên mất những mặt trái của đồng tiền để chỉ còn say đắm với lợi ích. Tôi cho rằng ba lợi ích lớn nhất của đồng tiền nhìn từ góc cạnh trí thức là tự do, thì giờ và nhân tính.

Những người thực sự giàu ít khi phải làm những gì họ không muốn. Họ cũng không bị buộc phải sống ở một nơi nào, với những người họ không thích hay chịu đựng những áp đặt ngược đời. Họ cũng có nhiều thì giờ hơn để chăm chú vào trọng điểm công việc vì đã có nhiều nhân viên phụ làm các việc lặt vặt. Nhờ vậy, họ có thời gian để thưởng thức văn hóa nghệ thuật nhiều hơn. Nhờ đồng tiền, những người giàu có thường rộng luợng quyên tặng cho những nạn nhân kém may mắn của xã hội. Họ cũng không bị những mặc cảm thua kém chi phối, nên nhân cách họ thường cởi mở và dễ thích hợp.

Giới hạn của tiền bạc

Nhưng thực tế thường phức tạp và nhiều thách thức hơn lý thuyết. Tôi tin rằng có rất nhiều người giàu đạt được những tự do, thì giờ và nhân cách do đồng tiền mang lại. Warren Buffett và Bill Gates là hai thí dụ điển hình. Tuy vậy, phần lớn những người giàu tôi quen biết, cũng như chính cái “tôi” đáng ghét lúc xưa, phải loay hoay trong cái bẫy của nghịch lý.

Trước hết, hành xử hàng ngày cùa chúng tôi bị giới hạn vào trách nhiệm phải có với cổ đông, với nhân viên, với khách hàng, với quyền lợi và thương hiệu của doanh nghiệp, và với cả cộng đồng chung quanh. Chúng tôi không thể nói hay làm những gì có thể gây hại đến những đối tác này. Bản thân chúng tôi cũng không có quyền bị bệnh nữa. Tuy không như Steve Jobs đã làm cổ phiếu Apple giảm 8% khi tin ông bị ung thư loan truyền, tôi và ban quản lý cũng phải giấu chuyện tôi phải mổ tim vào năm 1999 để tránh ảnh hưởng xấu trên cổ phiếu của công ty Hartcourt bé xíu.


Chúng tôi cũng bận rộn khủng khiếp khi giàu có. Với những báo cáo, tin tức, Emails và điện thọai thường xuyên, chúng tôi may mắn lắm mới có thì giờ nhàn rỗi để đọc hết một cuốn sách trên 500 trang. Những tiệc tùng lễ hội liên tiếp không cho chúng tôi thời gian để thư giãn với gia đình bạn bè. Bao nhiêu liên hệ thân tình sâu xa đã bị sự giàu có chia cắt.


Rồi đến những họat động xã hội thiện nguyện. Dù rộng lượng, nhiều người trong chúng tôi cũng không muốn danh nghĩa hay tiền bạc bị lạm dụng cho những mục tiêu đen tối. Hơn nữa, khi mở lòng giúp với vài trăm dollars nghe thật dễ dàng; vấn đề trở nên phức tạp khi số tiền lên đến cả triệu dollar. Bộ phận kế tóan, thuế vụ, pháp lý và PR phải nhẩy vào để khán duyệt và chỉ dẫn.

Những phúc lộc không tiền

Tôi vẫn yêu tiền. Dù nó mang đến hạnh phúc hay đau khổ, đồng tiền vẫn là người vợ, người tình và người bạn tuyệt vời. Nhưng tôi cũng không bao giờ quên những phúc lộc không cần có tiền, không cần mua hay thâu tóm. Chẳng hạn cuốn truyện The Catcher on The Rye và Dr. Zhivago tôi tình cờ đọc lại sau 40 năm, vào một buổi chiều đi lạc vào thư viện ở New Delhi. Tiếng cười trong trẻo của đứa con trai ở phòng cạnh bên khi hắn thì thầm với bạn gái qua điện thọai về chuyến đi chơi của hai cha con ở New York. Khuôn mặt rực rỡ của một người con gái tóc vàng trong một buổi sáng mùa thu qua công viên Luxembourg nhìn lá vàng.

Tôi hiểu lời của Sartre rằng, "Chúng ta nô lệ cho những gì mình sở hữu”. Và tôi vẫn xin được nói với tiền như một bài nhạc tình nào đó của Trịnh Công Sơn, "Dù đến rồi đi, tôi cũng xin tạ ơn người, tạ ơn đời, tạ ơn ai…đã cho tôi còn những ngày ngồi mơ ước..

Theo TS Alan Phan - Chủ tịch quỹ đầu tư Visa
VnMedia

Doanh nhân Giản Tư Trung: Xài tiền khó hơn kiếm tiền?

Nếu như kiếm tiền là việc rất khó, thì xài tiền, lại càng khó hơn. Nếu không, thì vua thép vĩ đại trong thế kỷ trước, Andrew Carnegie, đã chẳng phải thốt lên: "Chết trong sự giàu có là một cái chết đáng hổ thẹn".

Nếu như kiếm tiền là việc rất khó, thì xài tiền, lại càng khó hơn. Ảnh minh họa



Hội nhập toàn cầu, liệu ta có nên hội nhập cả cái văn hóa nhà giàu đáng nể trọng và cái cách xài tiền đầy trí tuệ của những người giàu thế giới?


Khi người Trung Quốc nói "không".


Chuyện kiếm tiền, đương nhiên là rất khó, cho dù kiếm bằng cách nào đi chăng nữa. Thế nhưng, khi kiếm tiền vượt qua ngưỡng của những nhu cầu tiêu dùng cho bản thân, gia đình và cộng đồng nhỏ xung quanh mình, thì việc ứng xử với một "núi" tiền lại là một thách thức không nhỏ đối với những người giàu và những người rất giàu.


Một câu chuyện điển hình là cách đây không lâu, khi hai trong số những người giàu nhất thế giới là Bill Gates và Warren Buffet khởi xướng chiến dịch "Giving Pledge" (tạm dịch là "Cam kết cho đi") nhằm kêu gọi các tỉ phú Mỹ dành phần lớn số tài sản của mình để góp phần thay đổi xã hội thông qua con đường từ thiện; họ đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình từ những "đồng nghiệp".


Đến nay, đã có hơn 70 tỉ phú Mỹ tham gia chiến dịch "cho đi" này. Những món tiền trị giá hơn một nửa hoặc gần như trọn vẹn tài sản của những doanh nhân thành đạt lần lượt được hiến tặng vì mục đích xã hội. Thế nhưng, khi bước chân sang Trung Quốc - quốc gia đông dân nhất thế giới với hàng loạt hiện tượng "siêu giàu" đang nổi lên, công cuộc thuyết phục của hai người đàn ông huyền thoại này lại không được dễ dàng như thế.


Bởi không phải tỉ phú Trung Quốc nào được mời tham dự "buổi tiệc lớn" của hai ông cũng sẵn sàng hay tỏ ra hào hứng với lời mời. "Sợ bị xin tiền" - đó là bình luận phổ biến nhất trên báo chí khi tường thuật lại cuộc thuyết phục chưa thành của Bill Gates và Warren Buffet tại Trung Quốc.


Rõ ràng quan niệm về cách xài tiền ở một quốc gia Á Đông khác xa so với nước Mỹ. Người Á Đông thường vẫn mong muốn tích lũy tài sản của mình, nhất là tài sản hữu hình, cho con cháu của họ. Và vì thế, triết lý "vì xã hội" đã không thuyết phục được nhà giàu mới tại Trung Quốc.


Liệu có chăng sự khác biệt về mặt suy nghĩ giữa nhà giàu phương Đông và phương Tây? Vì sao những người Á Đông, vốn sống duy tình, rất hay thương người nghèo khó, rất có nghĩa đồng bào, lại có vẻ chưa sẵn lòng cho việc trao đi như những người Âu Mỹ, vốn sống duy lý nhiều hơn?


Tại sao người giàu xứ người lại sẵn lòng tham gia vào sứ mệnh thay đổi thế giới bằng hoạt động từ thiện của mình? Phải chăng việc xài tiền cũng cần một triết lý và cả trí tuệ?


"Vì người" là cách... vì mình khôn ngoan nhất


Gần một trăm năm trước, với tâm niệm rằng, những gì mà mình có được đều từ cộng đồng thì cũng nên quay trở lại phục vụ cộng đồng, vua thép Andrew Carnegie đã gây xôn xao thế giới khi tuyên bố: "Cái chết trong sự giàu có là một cái chết đáng hổ thẹn".


Để minh chứng cho việc này, ông đã hiến 90% tài sản của mình cho để kiến tạo xã hội. Điều này cùng với truyền thống làm từ thiện lâu nay của các tỷ phú Mỹ, đã làm thay đổi cái nhìn về cách xài tiền, định nghĩa lại sự giàu có và góp phần hình thành nên văn hóa người giàu của nước Mỹ nói riêng và thế giới nói chung.


80 năm sau khi Carnegie qua đời, Warren Buffett chia sẻ: "Ngày tôi còn trẻ, rất nghèo, tôi đọc được tuyên ngôn của vua thép và không dứt ra được khỏi ý tưởng về ý nghĩa của tiền tài và cách hiến tặng của cải. Đến khi tôi trở nên giàu có, tôi hoàn toàn thấm thía cách nghĩ của ông và quyết tâm đi theo con đường này, và cùng những người bạn của tôi cổ vũ cho phong trào sử dụng tiền của để kiến tạo xã hội.


Con cái chúng ta, thì chúng ta phải có trách nhiệm, nhưng chỉ được phép cung cấp cho chúng đủ điều kiện để có thể thực hiện điều mà chúng muốn, chứ không được phép làm cho chúng không làm gì cả trên đống của cải mà chúng ta để lại".


Nghĩa là, thay vì cố gắng kiếm tiền để rồi cuối đời mới viết di chúc cho người khác sử dụng núi tiền khổng lồ của mình, những tỉ phú thế kỷ 21 như Warren Buffet lại muốn tự sử dụng hết và sử dụng một cách khôn ngoan toàn bộ số tiền mà mình đã vất vả cả đời mới kiếm được trước khi "ra đi". Tức là "cho khi còn sống", chứ không phải là "cho khi đã chết".


Thậm chí ngày nay, nhà giàu họ còn có xu hướng muốn "cho khi còn trẻ". Chẳng hạn, tỷ phú Mark Zuckerberg, nhà sáng lập của Facebook, đã cam kết cho đi hơn một nửa trong tổng số tài sản 17,5 tỷ USD của mình dù ông ấy chỉ mới đang ở độ tuổi "hai mấy".


GS Jason Franklin ở ĐH New York đã chia sẻ thêm về phong trào này: "Một người làm từ thiện khi về già vì ông ấy muốn con cháu mình có một thế giới mới tươi đẹp hơn, còn những người trẻ cho đi tài sản của họ để chính họ sẽ được hưởng một thế giới mới tươi đẹp hơn".


Dẫu phải cần thêm một thời gian nữa để "tư duy từ thiện mới" này có thể lan tỏa mạnh mẽ và rộng khắp thế giới, nhưng "đoàn quân" của những tỷ phú này đang ngày càng đông lên, với những cam kết đóng góp ngày một nhiều hơn. Và những thay đổi mà họ tạo ra cho thế giới ngày một rõ nét hơn, rộng lớn hơn... Và không thể không thừa nhận rằng họ cũng đã góp phần thay đổi cái nhìn còn pha nhiều thành kiến mà người ta thường dành cho "giới nhà giàu".


Nhiều người vẫn cho rằng, sự giàu có đồng nghĩa với tội lỗi. Không đúng! Tiền bạc thực ra chỉ là vật trung tính, bản thân nó không tốt cũng chẳng xấu. Tốt hay xấu không nằm ở đồng tiền, mà nằm ở cách kiếm tiền và cách xài tiền.


Kiếm tiền bằng cách này là xấu, kiếm tiền bằng cách kia thì tốt. Xài tiền vào việc này là xấu, xài tiền vào việc kia thì tốt. Và tổng những gì mà mình kiếm được cho mình thì luôn bằng với tổng những gì mà mình mang lại hay gây ra cho người khác. Đó cũng là lý do vì sao người ta thường hay nói rằng, "đằng sau một gia tài khổng lồ có thể là một cống hiến lớn, hay là một tội ác lớn, hay là cả hai".


Những đồng tiền kiếm được chỉ được xem là "sạch sẽ" nếu như kiếm bằng cách mang lại giá trị gì đó cho người khác và không gây hại gì cho ai cả. Và nếu như trách nhiệm xã hội lớn nhất của doanh nhân là cùng doanh nghiệp của mình mang đến cho xã hội những sản phẩm, dịch vụ hữu ích và vô hại, thì trách nhiệm xã hội của người giàu sẽ là gì nếu như không phải là biết cách sử dụng số tiền mà mình có sao cho ý nghĩa nhất, có lợi nhất cho mình và cho cả tương lai của xã hội!?


Ở các nước phát triển, các hoạt động văn hóa, khoa học, giáo dục, y tế, môi sinh, dân sinh... chỉ dùng một phần từ ngân sách quốc gia. Một phần không nhỏ họ dùng nguồn quỹ vận động từ các doanh nhân hiến tặng.


Trường ĐH Harvard lừng danh là một ví dụ, từ các tòa nhà, thư viện, phòng thí nghiệm, đến học bổng, kinh phí nghiên cứu khoa học, hầu như đều dựa rất nhiều vào nguồn tiền dồi dào do các doanh nhân, doanh nghiệp, các nhà khoa học, nhà hảo tâm đóng góp.


Có người ghi tên mình vào tòa nhà, đóng dấu ấn của mình vào phòng thí nghiệm hay đặt tên một quỹ học bổng để vinh danh dòng họ của mình. Nhưng cũng có người chỉ lặng lẽ trao tặng để tìm kiếm niềm hạnh phúc riêng cho bản thân mình với suy nghĩ "thi ân bất cần báo"...


Những người kiếm tiền một cách tử tế mà trở nên giàu có bậc nhất thế giới thì hẳn là trí tuệ và tầm nhìn của họ cũng đáng nể trọng. Vậy điều gì khiến họ thương người hơn cả thương mình? Nhưng có thật như vậy không? Hay họ thấm nhuần phương châm: "Vì người" là cách... vì mình khôn ngoan nhất.


Và chia sẻ triết lý của nhà bác học lỗi lạc, nhà hiền triết, nhân vật có ảnh hưởng bậc nhất trong thế kỷ 20 Einstein: "Chỉ có một cuộc đời sống để phục vụ người khác mới là một cuộc đời đáng sống". Họ đã mưu cầu hạnh phúc cho bản thân mình và gia đình mình bằng cách tạo ra hạnh phúc cho những người quanh mình, cho xứ sở mình và cho cả đồng loại của mình.


Và lựa chọn của riêng mình...


Một khi đã là triệu phú hay tỷ phú thì điều quan trọng không hẳn là "kiếm được" hay "đạt được" cái gì cho mình, mà là "mang lại" hay "để lại" cái gì cho xã hội và sẽ đi vào lịch sử như thế nào.


Di sản của nhà giàu sẽ là gì nếu tiền bạc của mình chỉ để "vinh thân phì gia"!? Sẽ quý giá biết bao khi di sản của nhà giàu là những giá trị vô hình (sự phát triển về văn hóa, khoa học, giáo dục...). Hay những giá trị hữu hình mà đồng tiền của họ đã tạo ra (trường học, bảo tàng, thư viện, bệnh viện, các công trình văn hóa, nghệ thuật, lịch sử có giá trị...).


Thực tế cho thấy, một khi đã đạt tới đỉnh cao thì, dù muốn hay không, tên tuổi cũng sẽ được hay bị lưu truyền. Khi đạt đỉnh cao quyền lực, cả ngàn năm sau người ta sẽ nhắc đến như là một "minh quân" hay một "bạo chúa"? Khi đạt đỉnh cao về tiền tài, người đời sẽ nhớ đến như một "trọc phú" hay một "người kiến tạo tương lai"?... Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào sự lựa chọn của mỗi người khi còn sống.


Đó là một lựa chọn không hề dễ dàng, nhưng là một lựa chọn đầy thú vị. Thú vị không phải vì chuyện đúng, sai, phải, trái, mà đơn giản là mỗi người tự biết sẽ dùng cuộc đời của mình vào việc gì, dùng tiền của mình vào việc gì, muốn sống lặng lẽ và ra đi lặng lẽ, hay sống mãi với đời từ những giá trị mà mình đã tạo ra và để lại...


Theo Giản Tư Trung
Tuần Việt Nam

Tân cử nhân kinh tế đạp xe, treo biển tìm việc giữa Sài Gòn

Một tân cử nhân ĐH Tài chính marketing TP.HCM đã đạp xe “tự tiếp thị” mình: "Tôi cần một công việc. Tôi có bằng ĐH tài chính ngân hàng, có các chứng chỉ UBCKNN; biết lập trình MATLAB, C++, VBA for EXCEL. Liên hệ: ...”

 
Trong lúc 105 công ty chứng khoán đang phải giải bài toán làm sao tồn tại, thì cơ hội có việc làm cho người mới tốt nghiệp trong ngành có vẻ hẹp hơn.


Huỳnh Ngọc Thành, 22 tuổi, tân cử nhân đại học Tài chính marketing TP.HCM đã đạp xe suốt một ngày trời trên các đường phố Sài Gòn để “tự tiếp thị” mình, mong tìm được một công việc trong tình hình ngành chứng khoán đang rất khó khăn.

“Tôi cần một công việc. Tôi có bằng đại học ngành tài chính ngân hàng, có các chứng chỉ UBCKNN (uỷ ban Chứng khoán Nhà nước); biết lập trình MATLAB, C++, VBA for EXCEL. Liên hệ: ...” Bằng chính nét chữ của người tự giới thiệu, những nội dung trên được ghi vào hai tấm giấy carton gắn vào mặt trước ghi đông và mặt yên sau xe đạp để người đi đường có thể đọc được.

“Tôi ra trường vào tháng 7.2011. Từ đó đến nay đã nộp hồ sơ vào nhiều công ty nhưng vẫn chưa được gọi. Có công ty đăng quảng cáo trên mạng nhưng đến nơi lại gặp môi giới đa cấp, phải đóng 100.000 đồng nhưng vẫn không có việc. Có nơi gọi phỏng vấn nhưng chưa thấy trả lời. Không thể nằm chờ mãi, tôi đã chọn hình thức tự tiếp thị cá nhân thế này để mong có nhà tuyển dụng nào đó tình cờ để mắt đến”, Thành quệt mồ hôi trán, nói.

Suốt bốn năm học ngành tài chính ngân hàng, chàng sinh viên quê Cam Ranh có khuôn mặt sáng sủa này tự hào vì gia tài cuối cùng là một tủ sách chuyên ngành mà anh mày mò nghiên cứu photo được từ các thư viện. “Kiếm được bao nhiêu tiền từ nghề gia sư, tôi dành đổ xăng để lặn vào các kho sách thư viện đại học Khoa học tự nhiên, đại học Bách khoa, đại học Sư phạm kỹ thuật và nhóm thư viện làng đại học ở Thủ Đức để nghiên cứu. Tôi học thêm các phần mềm lập trình, kiểm toán, phân tích dữ liệu, báo cáo để làm chủ kiến thức chuyên môn trong chương trình học”, chàng cử nhân trẻ say sưa nói về các đầu sách kinh tế lượng, các phương pháp chuyên môn thống kê, hồi quy và đa trị dùng cho việc phân tích các chỉ số, báo cáo tài chính ngân hàng. Những kiến thức về kỹ thuật, công cụ, hoặc chứng chỉ của uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, hầu hết là do Thành tự tìm hiểu, học thêm vì say mê ngành học. Thành không ngại ngần bày tỏ ước mơ một thời là mong có dịp sang Mỹ để có điều kiện nghiên cứu sâu thêm về chuyên ngành tài chính ngân hàng.

Nhưng bài toán đơn giản nhất là kiếm được một việc làm để “tồn tại trong lúc hết tiền trả tiền trọ và chi tiêu hàng ngày”, thì chàng tân cử nhân tài chính ngân hàng này lại chưa giải được.

“Nói thật, tôi cũng hết cách mới chọn đến hình thức “tiếp thị bản thân” theo kiểu này. Ban đầu, tôi cũng hơi e ngại, mặc cảm lắm. Chiến thắng được sự mặc cảm đó để bắt tay làm quả thật rất khó khăn”. Thành cũng cho biết thêm, anh đã suy nghĩ nhiều khi chọn lựa đi bằng xe đạp hay xe máy: “Xe máy vừa khó làm chủ tốc độ, vừa tốn xăng. Tôi chọn đi xe đạp sẽ gây sự chú ý cho mọi người, vì tốc độ vừa phải, người ta có thể đọc thấy kỹ thông tin, số điện thoại để nếu cần thì liên lạc”.

Trong giỏ xe của Huỳnh Ngọc Thành, còn có một tập hồ sơ, là bản photo văn bằng, chứng chỉ cần thiết để nếu có người quan tâm, sẽ cung cấp tận tay. “Nếu tôi không có khả năng thì chắc chắn cũng không dám chọn hình thức “tự giới thiệu” thế này đâu. Thật tình tự tin vào khả năng có thể đáp ứng tốt nhất về lao động ở chuyên ngành mình được đào tạo”, Thành khẳng định.

Hiện tại Thành đang thuê phòng trọ ở chung với cậu em trai làm ngành bất động sản, cũng đang gặp khó khăn. Người mẹ già 70 tuổi ở quê nhà thì không còn khả năng để lao động, nên: “Ra trường, bằng mọi cách, tôi chỉ mong sớm có việc để tự lo và giúp người thân. Nếu lúc này có ai kêu tôi làm một nghề gì khác chuyên môn nhưng vẫn trang trải được chi tiêu, thì tôi vẫn sẵn sàng làm”, Thành nói.

Những vòng xe đạp của cậu tân cử nhân ngành tài chính ngân hàng lại lăn bánh chậm chạp. Trên đường phố đông, nhiều người tò mò về hình thức tiếp thị độc đáo này. Một buổi sáng trôi qua, chưa có cuộc điện thoại bất ngờ nào. Tín hiệu hy vọng hãy còn nằm đâu đó phía trước những dòng người xe vội vàng.

SGTT

Phát hiện kho báu tiền vàng 1 triệu USD trên trần nhà

 Cơn “mưa tiền vàng” gần 1 triệu USD đã trút xuống đầu các công nhân khi họ chọc trần tòa văn phòng của một hãng sản xuất sâm-panh Pháp.

Nhóm công nhân xây dựng sửa chữa ngôi nhà trong vườn nho ở làng Les Riceys, vùng sản xuất sâm-panh nổi tiếng của Pháp, đã vô cùng kinh ngạc khi “cơn mưa” đồng xu vàng của Mỹ trút xuống họ từ trên trần nhà.

Kho báu gồm 497 đồng xu vàng của Mỹ, mỗi đồng có mệnh giá 20 USD. Những đồng xu này được đúc từ năm 1851-1928 và nặng tương đương 17kg vàng.


Nhà sản xuất Lange chỉ nơi kho báu vàng được phát hiện.


“Một trong những công nhân đã dùng xà beng chọc vào trần nhà và kho báu đồng xu vàng bung ra”, Francois Lange, người đứng đầu hãng sâm phanh Alexandre Bonnet ở Les Riceys France cho biết.


Việc giới săn kho báu tìm thấy vàng và các kim loại quý khác dưới đáy biển không có gì là lạ, song tìm thấy 1 triệu đô trên trần văn phòng quả là điều hiếm gặp.


Kho báu gồm tổng cộng 17kg vàng.


Ông Lange cho biết ông sẽ giữ một nửa số tiền vàng cho mình trong khi chia số còn lại cho các công nhân đã tìm ra kho báu.


Không ai biết ai đã cất giấu số tiền vàng trên trong tòa nhà, nhưng được biết vào những năm 1930 tòa nhà thuộc sở hữu của một nhà sản xuất rượu vang.


Ngôi nhà nơi kho báu được cất giấu.

Theo AFP

Luật Đất đai: Năm vấn đề cần sửa gấp

(DiaocNiemtin.com) Hệ thống pháp luật đất đai hiện hành của nước ta được xây dựng trên cơ sở Luật Đất đai 2003 và khi ấy Việt Nam chưa phải là thành viên của WTO nên có nhiều điểm chưa đáp ứng được nhu cầu hội nhập quốc tế

Với “tiên đề” đất đai thuộc sở hữu toàn dân, trong 10 năm thực hiện Luật Đất đai 2003, có thể rút ra 5 vấn đề bất cập chủ yếu cần điều chỉnh ngay.

Thời hạn, hạn điền đã lỗi thời

Thời hạn và hạn điền đối với đất sản xuất nông nghiệp, rừng sản xuất, nuôi trồng thủy sản, làm muối của hộ gia đình, cá nhân chưa thỏa đáng. Động lực từ chính sách giao đất cho hộ gia đình, cá nhân để sử dụng trong thời hạn 20 năm đối với đất trồng cây hằng năm, nuôi trồng thủy sản, làm muối và 50 năm đối với đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất đã cạn. Động lực suy giảm dần vì người sử dụng đất không yên tâm tập trung đất đai, phát triển kinh tế trang trại, đầu tư lớn, đầu tư dài hạn để có năng suất và sản lượng cao hơn nhiều lần.


Nên bỏ hạn điền và thời hạn giao đất để tạo động lực phát triển kinh tế nông nghiệp. Trong ảnh: Thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long.

Từ thực tế sử dụng đất, thấy rằng nên xóa bỏ thời hạn và hạn điền đối với đất nông nghiệp để tạo động lực mới cho phát triển kinh tế nông nghiệp, làm cho xã hội nông thôn phát triển và nông dân khá giả hơn.

Giao đất, cho thuê đất chưa công bằng

Chế độ sử dụng đất phi nông nghiệp, gắn với quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư đang có biểu hiện bất cập trên thực tế, chưa tạo được bình đẳng giữa nhà đầu tư trong nước và quốc tế như quy tắc của WTO đặt ra.

Hiện nay, đất ở có giá cao nhất thị trường vì được sử dụng không có thời hạn. Nhà đầu tư trong nước thực hiện dự án xây dựng, kinh doanh nhà ở cũng được giao đất không có thời hạn để thực hiện dự án. Nhà đầu tư nước ngoài cũng được thuê đất không có thời hạn (hết hạn là đương nhiên được kéo dài) để thực hiện dự án xây dựng kinh doanh nhà ở. Quy định này tạo nguy cơ đầu cơ đất đai. Khi nhà đầu tư đã được giao đất ở thì yên tâm giữ đất, không cần đầu tư ngay, hoàn thành dự án rồi cũng không cần bán nhà ngay mà có thể tùy tiện găm hàng lại. Chắc chắn các nhà đầu tư rất muốn giữ nguyên các quy định hiện hành vì thuận tiện hơn cho đầu cơ.

Đối với các loại đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất ở, nhà đầu tư trong nước được Nhà nước giao đất có thu tiền hoặc cho thuê đất trả tiền hằng năm, còn nhà đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần hoặc trả tiền hằng năm với cùng thời hạn sử dụng đất xác định theo dự án đầu tư (không vượt quá 70 năm) và với quyền - nghĩa vụ hoàn toàn tương đương. Theo thuật ngữ pháp lý ở các nước phát triển, đất được sử dụng có thời hạn đều gọi là đất thuê. Hai cơ chế giao đất, cho thuê đất khác nhau về hình thức giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đang tạo nên sự khác biệt về hình thức. Cần quy về một cơ chế Nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần hoặc trả tiền hằng năm đối với cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.

Cơ chế thu hồi đất dễ phát sinh tham nhũng

Việc tiếp cận đất đai của các dự án đầu tư hay quá trình chuyển dịch đất đai liên quan tới cơ chế Nhà nước thu hồi đất để cho thuê đất hoặc giao đất cho các dự án đầu tư đang tạo nhiều bức xúc cho cả nhà đầu tư và người bị thu hồi đất. Luật Đất đai 2003 đã khuyến khích nhà đầu tư trong nước được nhận chuyển quyền sử dụng đất trực tiếp từ người đang sử dụng đất, tạo nên cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện. Việc chuyển dịch đất đai bắt buộc dựa trên cơ chế Nhà nước thu hồi đất để cho thuê hoặc giao cho các dự án đầu tư bị thu hẹp lại. Trên thực tế, cơ chế Nhà nước thu hồi đất đang được thực hiện phổ biến ở các nơi vì cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện gặp khó khăn khi một số người đang sử dụng đất nói giá đất “trên trời”, không thể đàm phán được và đành bó tay. Cơ chế Nhà nước thu hồi đất theo quy hoạch cũng hầu như không được áp dụng vì lý do không có tiền để thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Hiện nay, hầu hết các dự án đầu tư đều thực hiện cơ chế thu hồi đất theo dự án với nhà đầu tư đã được chỉ định, đang chứa nguy cơ tham nhũng rất cao.

Sở hữu đất đai chưa phù hợp

Bàn lại vấn đề sở hữu đất đai là một việc nên làm cho phù hợp với giai đoạn quá độ lên CNXH. Ở tất cả các nước phát triển, hệ thống pháp luật đều thừa nhận sở hữu đất đai là loại sở hữu đặc biệt, không có sở hữu tư nhân tuyệt đối. Đối với đất đai, quyền định đoạt có một phần thuộc Nhà nước và một phần thuộc người đang nắm giữ đất đai. Pháp luật đất đai hiện hành của nước ta cũng đã quy định theo hướng này, chỉ có điều quyền định đoạt của Nhà nước về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất được áp dụng rộng hơn mức cần thiết, một mặt làm méo mó thị trường và mặt khác gây nguy cơ tham nhũng cao.

Chúng ta có thể xem xét vấn đề sở hữu đất đai được quy định tại điều 11 của Hiến pháp 1959: “Ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thời kỳ quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là: hình thức sở hữu của Nhà nước - tức là của toàn dân, hình thức sở hữu của HTX - tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc”. Đây là một kinh nghiệm đáng được lưu tâm vì hiện nay đất nước ta đang vận hành cơ chế thị trường định hướng XHCN, chưa đạt được điều kiện hạ tầng của một nước XHCN thực sự.

Đừng giao địa phương giải quyết khiếu nại !

Giải quyết khiếu nại hành chính trong quản lý đất đai chưa có chuyển động mạnh mẽ trên thực tế. Hiện khiếu nại về đất đai đang chiếm khoảng 70% tổng số vụ khiếu nại của dân. Chủ trương hiện nay là giao toàn bộ thẩm quyền giải quyết khiếu kiện về đất đai cho địa phương và sau đó giải quyết tại tòa án, các cơ quan hành chính ở Trung ương không có trách nhiệm giải quyết. Cách tiếp cận này, trước hết, làm cho quy trình giải quyết khiếu kiện của dân về đất đai (chiếm 70%) khác với quy trình giải quyết chung theo pháp luật về khiếu nại (chiếm 30%). Đúng nhất là giải quyết khiếu nại của dân về đất đai phải theo quy định chung của pháp luật về khiếu nại. Vụ Tiên Lãng là một ví dụ sống động cho thấy giải quyết khiếu nại của dân về đất đai không thỏa đáng đã gây hậu quả thế nào.

Theo Người Lao Động

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More