Bài học quan trọng của cuộc đời - Bài học về sự hy sinh


(DiaocNiemtin.com) Đã lâu lắm rồi, nhiều năm đã trôi qua, khi tôi còn là tình nguyện viên tại một bệnh viện, tôi có biết một cô gái nhỏ tên Liz - cô ấy đang mắc phải một căn bệnh rất hiểm nghèo.

Cơ hội sống sót duy nhất của cô là được thay máu từ người anh trai 5 tuổi của mình, người đã vượt qua được cơn bạo bệnh tương tự một cách lạ thường nhờ những kháng thể đặc biệt trong cơ thể. Bác sĩ đã trao đổi và giải thích điều này với cậu bé trước khi yêu cầu cậu đồng ý cho cô em gái những giọt máu của mình. Lúc ấy, tôi đã nhìn thấy sự lưỡng lự thoáng qua trên khuôn mặt bé nhỏ kia. Cuối cùng, với một hơi thở thật sâu và dứt khoát cậu bé đã trả lời rằng: "Cháu đồng ý làm điều đó để cứu em cháu".

Nằm trên chiếc giường kế bên em gái để thuận tiện hơn cho việc truyền máu, cậu bé liếc nhìn em gái và đôi mắt ngời lên niềm vui khi thấy đôi má cô bé hồng lên theo từng giọt máu được chuyền sang từ người cậu. Nhưng rồi, khuôn mặt cậu bỗng trở nên tái xanh đầy lo lắng, cậu bé ngước nhìn vị bác sĩ và hỏi với một giọng run run: "Cháu sẽ chết bây giờ phải không bác sĩ?" Thì ra, cậu bé non nớt của chúng ta đã nghĩ rằng: cậu ta sẽ cho cô em gái tất cả máu trong người mình để cứu cô ấy và rồi cậu sẽ chết thay cô.

Bạn thấy không, sau tất cả những hiểu lầm và hành động của mình, cậu bé đã có tất cả nhờ đức hy sinh...

Cuộc sống có câu: "Hãy cho đi thứ bạn có, rồi bạn sẽ được đền bù xứng đáng". 
Tôn Thất Khiêm St

Bài học quan trọng của cuộc đời - Bài học về lòng biết ơn

(DiaocNiemtin.com) Vào cái thời khi mà món kem nước hoa quả còn rất rẻ tiền, có một câu chuyện về cậu bé 10 tuổi thế này:

Ngày nọ, Jim - tên của cậu bé - sau một hồi đi qua đi lại, ngó nghiêng vào cửa hàng giải khát đông nhất nhì thành phố, nơi có món kem nước hoa quả mà cậu rất thích, mạnh dạng tiến lại gần cái cửa, đẩy nhẹ và bước vào. Chọn một bàn trống, cậu nhẹ nhàng ngồi xuống ghế và đợi người phục vụ đến.

Chỉ vài phút sau, một người nữ phục vụ tiến lại gần Jim và đặt trước mặt cậu một ly nước lọc. Ngước nhìn cô phục vụ, cậu bé hỏi: "Cho cháu hỏi bao nhiêu tiền một ly kem nước hoa quả ạ?". "50 xu", cô phục vụ trả lời. Nghe vậy, Jim liền móc trong túi quần ra một số đồng xu lẻ, nhẩm tính một hồi, cậu hỏi tiếp: "Thế bao nhiêu tiền một ly kem bình thường ạ?". "35 xu", người phục vụ vẫn kiên nhẫn trả lời cậu bé mặc dù lúc đó khách vào cửa hàng đã rất đông và đang đợi cô. Cuối cùng, người nữ phục vụ cũng mang đến cho Jim món kem mà cậu yêu cầu, và sang phục vụ những bàn khác. Cậu bé ăn xong kem, để lại tiền trên bàn và ra về. Khi người phục vụ quay trở lại để dọn bàn, cô ấy đã bật khóc khi nhìn thấy 2 đồng kẽm (1 đồng bằng 5 xu) và 5 đồng xu lẻ được đặt ngay ngắn trên bàn, bên cạnh 35 xu trả cho ly kem mà Jim đã gọi - Jim đã không thể có món kem nước hoa quả mà cậu ấy thích bởi vì cậu ấy chỉ có đủ tiền để trả cho một ly kem bình thường và một ít tiền boa cho cô.
Tôn Thất Khiêm St

Bài học quan trọng của cuộc đời - Bài học về sự giúp đỡ


(DiaocNiemtin.com) Trong một đêm mưa bão bất thường trên đường phố Alabama vắng vẻ, lúc đó đã 11h30 khuya, có một bà lão da đen vẫn cứ mặc cho những ngọn roi mưa quất liên hồi vào mặt, cố hết sức vẫy vẫy cánh tay để xin đi nhờ xe.

Một chiếc xe chạy qua, rồi thêm một chiếc xe nữa, không ai để ý đến cánh tay dường như đã tê cứng vì lạnh cóng. Mặc dù vậy, bà lão vẫn hy vọng và vẫy chiếc xe kế tiếp. Một chàng trai da trắng đã cho bà lên xe. (Mặc cho cuộc xung đột sắc tộc 1960). Bà lão trông có vẻ rất vội vã, nhưng cũng không quên cám ơn và ghi lại địa chỉ của chàng trai.

Bảy ngày trôi qua, cánh cửa nhà chàng trai tốt bụng vang lên tiếng gõ cửa. Chàng trai ngạc nhiên hết sức khi thấy một cái tivi khổng lồ ngay trước cửa nhà mình. Một lá thư được đính kèm, trong đó viết: "Cảm ơn cháu vì đã cho bà đi nhờ xe vào cái đêm mưa hôm ấy. Cơn mưa không những đã làm ướt sũng quần áo mà nó còn làm lạnh buốt trái tim và tinh thần của bà nữa. Rồi thì lúc đó cháu đã xuất hiện như một thiên thần. Nhờ có cháu, bà đã được gặp người chồng tội nghiệp của mình trước khi ông ấy trút hơi thở cuối cùng. Một lần nữa bà muốn cảm ơn cháu đã không nề hà khi giúp đỡ bà." Cuối thư là dòng chữ: "Chân thành - Bà Nat King Cole". 
Tôn Thất Khiêm St

Bài học quan trọng của cuộc đời - Bài học về sự quan tâm

(DiaocNiemtin.com) Trong tháng thứ 2 của khoá học y tá, vị giáo sư của chúng tôi đã cho chúng tôi một câu hỏi hết sức bất ngờ trong bài thi vấn đáp. Tôi đã lướt qua hầu hết các câu hỏi trong bài thi, và ngạc nhiên dừng lại ở câu hỏi cuối cùng: “Hãy cho biết tên người phụ nữ quét dọn trường học của chúng ta?” Một câu hỏi không có trong chuyên môn, chắc đây chỉ là một câu hỏi đùa thôi. Tôi đã nghĩ vậy!

Thật ra, tôi đã nhìn thấy người phụ nữ đó vài lần. Cô ấy cao, tóc sẫm màu và khoảng chừng 50 tuổi nhưng làm sao mà tôi có thể biết được tên cô ta cơ chứ? Tôi đã kết thúc bài làm của mình với câu cuối cùng bị bỏ trống.

Cuối giờ kiểm tra, một sinh viên đã hỏi vị giáo sư rằng: “Liệu ông có tính điểm cho câu hỏi cuối cùng kia không?”, ông ta trả lời: “Chắc chắn rồi”, rồi ông nói tiếp: “Trong công việc, các em sẽ gặp rất nhiều người, tất cả họ đều quan trọng, họ xứng đáng được nhận sự quan tâm của các em, dù chỉ là một nụ cười hay một câu chào”.

Tôi đã không bao giờ quên bài học đó trên mỗi bước đường đời của mình sau này, và tôi cũng không bao giờ quên tên của người phụ nữ đó, cô Dorothy.
Tôn Thất Khiêm St

Bài học quan trọng của cuộc đời - Bài học về sự tự giác và trách nhiệm


(DiaocNiemtin.com) Xưa thật là xưa, có một ông Vua nọ, một hôm ông ta sai quân lính đặt một tảng đá lớn nằm chắn ngang đường đi. Xong, ông nấp vào một bụi cây gần đấy và theo dõi.

Lần lượt ông ta thấy, những thương nhân giàu có đi qua, rồi đến những cận thần của ông đi qua, nhưng không ai có ý định xê dịch tảng đá sang bên nhường chỗ cho lối đi cả, họ chỉ lẩm nhẩm đổ lỗi cho nhà Vua vì đã không cho người giữ sạch sẽ con đường.

Một lúc sau, nhà Vua nhìn thấy một người nông dân đi tới với một xe rau cồng kềnh nặng trĩu. Nhìn thấy tảng đá, người nông dân liền ngừng xe và nhảy xuống đất, cố hết sức mình ông ta đã đẩy được tảng đá sang bên kia vệ đường. Vừa làm ông ta vừa lẩm bẩm: “Thật không may nếu có ai đó không thấy mày và vấp phải, chắc là sẽ đau lắm đây”. Xong đâu đấy, người nông dân quay trở lại xe để tiếp tục đi tiếp, thì bỗng nhìn thấy một bao tiền to đùng đặt ngay chỗ mà ông đã di chuyển tảng đá. Đó là một một món quà của Đức Vua cho người nào dịch chuyển được tảng đá.

Câu chuyện của người nông dân này đã giúp chúng ta nhận ra một điều quý giá mà rất nhiều người trong chúng ta không bao giờ nhận thấy: Vật cản đôi khi cũng có thể là một cơ hội tốt.
Tôn Thất Khiêm St

Đôi khi cần mạo hiểm

(DiaocNiemtin.com) Đó là một bài kiểm tra kỳ lạ nhất từ khi tôi đi học. Hôm đó, thầy giáo vào lớp và phát cho mỗi người chúng tôi một bài kiểm tra toán. Bài kiểm tra được chia làm đề riêng lẻ, có ghi chú rất rõ ràng ngay từ đầu:

Loại một gồm những câu hỏi vừa dễ, vừa khó, nếu làm hết sẽ được 10 điểm.

Loại 2 là đề bài ở mức trung bình, làm hết sẽ được 8 điểm.

Loại 3 có tổng điểm là 6 với những câu hỏi rất dễ.

Học sinh có quyền lựa chọn làm một trong ba đề đó. Vì thời gian khá gấp gáp, lại e ngại không làm được bài khó nên phần lớn, chúng tôi đều cắm đầu vào làm ngay loại đề số 3 hoặc số 2 cho ăn chắc.

Một tuần sau khi thầy giáo trả bài kiểm tra, chúng tôi còn ngạc nhiên hơn lúc nhận được đề bài vì thầy không hề chấm, cứ ai làm dề nào thì thầy cho đúng tổng điểm của đề đó, bất kể sai hay đúng.

Quá ngạc nhiên, chúng tôi đã hỏi thầy, các bạn có biết câu trả lời của thầy là gì không?

Thầy đã nói với chúng tôi rằng đó không phải là bài kiểm tra kiến thức mà là bài kiểm tra sự tự tin.

Thầy nói ai trong chúng tôi cũng muốn đạt điểm 10 nhưng ít ai dám vượt qua thử thách để biến ước mơ đó thành sự thật. Chúng tôi biết nếu làm đề 10 điểm, chúng tôi sẽ phải làm thêm những câu hỏi khó nên đã bỏ cuộc ngay từ đầu mà không hề ngó qua để nhận thấy rằng số câu rất dễ trong đề này cũng vừa tròn với tổng số điểm là 6.

Có những việc nhìn bề ngoài thì tưởng chừng như là khó nên chúng ta thường rút lui ngay từ phút đầu tiên mà không hề cân nhắc. Nhưng đôi khi chúng ta cũng nên mạo hiểm một lần vì nếu không vượt chướng ngại vật thì làm sao biết khả năng của mình đến đâu, và làm sao về đích như ước mơ của mình.
Tôn Thất Khiêm St

Theo đuổi giấc mơ

(DiaocNiemtin.com) Ngày mai, cậu bé có một bài tự luận để nộp. Đề bài cho: "Viết về những điều muốn làm sau này". Đêm đó, cậu đã thức suốt đêm để viết một bài luận dài bảy trang giấy trình bày ý tưởng về một trang trại nuôi ngựa giống thật lớn. Cậu bé miêu tả thật chi tiết, thậm chí còn vẽ bản thiết kế trang trại cho hơn 200ha đất, vị trí đặt những khu nhà, chuồng ngựa và đường đua.

Sáng hôm sau, cậu bé nộp bản kế hoạch với tất cả nhiệt huyết của mình cho thầy giáo. Hai ngày sau, cậu nhận lại bài viết với điểm F kèm dòng ghi chú: " Gặp lại thầy sau giờ học."

Cậu bé với giấc mơ của mình đi đến gặp thầy giáo và hỏi: "Tại sao bài viết của em bị nhận điểm F, thưa thầy?"

Thầy giáo trả lời: "Bởi vì đó là giấc mơ không thể thực hiện được đối với một chàng trai nhỏ như trò. Trò không có tiền, trò đến từ một gia đình không rõ nguồn gốc (dân di cư), trò không có vốn liếng, sở hữu một trang trại ngựa đòi hỏi phải có thật nhiều tiền. Trò phải mua đất, phải trả tiền mua ngựa giống,... Trò không có cách nào làm được điều đó!" Thầy giáo thêm vào: "Nếu trò viết lại bài này thực tế hơn một chút, thầy sẽ chấm điểm lại cho trò. "

Cậu bé trở về nhà và suy nghĩ rất lâu. Cậu hỏi cha cậu rằng mình nên làm gì. Cha cậu nói: "Này con trai, con nên khơi gợi trí tưởng tượng của mình. Tuy nhiên, bố biết đây là một quyết định quan trọng đối với con!"

Sau một tuần đắn đo, cậu bé cầm bài viết của mình lên gặp thầy giáo, không sửa lại chổ nào, cậu dõng dạc nói: "Thầy có thể giữ điểm F và em sẽ giữ giấc mơ của mình."

Tôn Thất Khiêm St

Năm Rồng ăn cơm với Rồng!

(DiaocNiemtin.com) Chắc hẳn ít ai biết rằng cây Xương Rồng - một loại cây mọc hoang thành rừng ở vùng cát ven biển các tỉnh miền Trung - lại có thể chế biến thành nhiều món ăn khoái khẩu.



Với cư dân vùng cát huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, xương rồng là một loại thực phẩm có thể luộc, nấu canh hoặc làm gỏi ăn thay cơm vào những năm đói kém, mất mùa. Loài cây chịu được nắng nóng, cát bỏng với gai nhọn chi chít quanh thân này là một nguồn rau xanh dồi dào của người dân vùng cát. Xương rồng có thể xào với tôm, trộn với thịt heo ba chỉ, nấu canh chua với cá lóc, cá trê... Hay đơn giản chỉ cần một nắm hạt đậu phộng rang giòn là đã có một đĩa gỏi xương rồng vừa ngon mắt vừa khoái khẩu.

Gia đình cụ ông Phan Lợi (85 tuổi) nhà ở thôn 5, xã Bình Dương đã mời chúng tôi một bữa cơm với món xương rồng xào tôm thơm ngào ngạt. Lần đầu tiên được ăn món lạ, cảm giác của tôi hơi ngần ngại. Nhưng khi đã nếm thử đũa đầu tiên, tôi biết từ nay trong thực đơn của mình có thêm một món ngon từ loài cây gai góc này. Thấy chúng tôi tấm tắc khen ngon, cụ Lợi tự hào: “Xương rồng là loại cây cứu đói cho dân tụi tui hồi những năm đói kém, mất mùa. Giờ đời sống khá giả hơn, có tôm cá, thịt đủ thứ, món xương rồng cũng thay đổi theo. Cô thấy đó, xương rồng nấu với thứ gì cũng ngon hết”.

Xương rồng mọc hoang ở các đồi, gò, bãi cát, ai muốn lấy bao nhiêu cũng được, miễn là khéo léo tách các đọt xương rồng sao cho gai không đâm vào tay. Buổi trưa đi làm đồng về, bắc nồi cơm lên bếp, cầm dao ra bãi cát phạt chừng 3-5 đọt xương rồng đem vào là cả nhà đã có một bữa canh mát lòng.




Bà Nguyễn Thị Tăng (vợ cụ ông Phan Lợi) đi cắt xương rồng

Chế biến xương rồng rất đơn giản. Chỉ cần gọt sạch gai ở bốn phía, tách lớp màng mỏng ở ngoài cho sạch rồi thái mỏng, đem luộc trên bếp chừng 5 phút, khi màu xanh chuyển sang màu vàng là được. Xương rồng luộc lên có màu vàng như dưa cải muối chua, đem vắt ráo nước là có thể xào, nấu món gì tùy thích. Xương rồng luộc có vị chua chua, thơm nhẹ chứ không chua đậm như khế, không chua gắt như chanh. Cá lóc hay cá trê xắt lát đem ướp mắm muối, gia vị, bắc chảo xào lên cho thấm rồi cho xương rồng vào, đảo qua vài lượt rồi chế nước sôi vào. Nồi canh sôi chừng ba phút, nêm nếm vừa ăn cho thêm ngò gai, hành lá vào là có thể ăn ngay được. Xương rồng khi nhai trong miệng cảm giác dai dai, sần sật, chua chua rất ngon chứ không mềm như dọc mùng. Mùa hè ở xứ cát nóng nực, bữa trưa chỉ cần một bát canh chua xương rồng kèm với chén nước mắm ớt là cả nhà đã có một bữa cơm ngon miệng.

Xương rồng luộc xong vắt ráo nước đem xào với mỡ, nêm thêm muỗng nước mắm cũng là một món dễ đưa cơm. Mùa đông mưa dầm không đi chợ được, các mẹ ở vùng cát chỉ cần ra sau vườn cắt vài đọt xương rồng vào luộc trộn với một nhúm đậu phộng rang giòn là đã có một món gỏi xương rồng thơm nức mũi. Đây cũng là một trong những món nhậu khá bắt mồi của ngư dân vùng cát trong những ngày trăng sáng, thuyền nằm bờ.

Theo Tuổi Trẻ

Tía thiệt uyên thâm

(DiaocNiemtin.com) Tía à, con phân vân hoài hổng hiểu sao thành phố mình dạo này triều cường lên xuống bất tử dzậy tía?

- Mày toàn hỏi khó tía thôi! Lãnh vực đó đâu phải ngành dọc của tía mà tía biết.

- Thế sao dạo này người ta ngộ độc thực phẩm tía lia, tía biết hông?

- Lại khó nữa! Nó thuộc chuyên ngành hẹp làm sao tía đoán ra!

- Thế chuyện trên đường bỗng dưng xuất hiện một cái hồ, tía bảo vì sao?

- Nếu là hồ thì chắc người ta đào đìa nuôi cá như tía, còn nó là hố thì sao vậy cà?

- À quên, nó là hố. Người ta quen gọi là hố tử thần. Tía cũng chịu luôn đúng hông? Còn chuyện xe đang chạy trên đường tự nhiên phát hỏa, chắc tía biết nguyên do?

- À, ờ có thể, có lẽ thứ nhất là tại bu-gi, thứ nhì là tại cái gì bên trong. Đúng chưa?

- Trả lời dzậy nghĩa là tía bó tay rồi! Dzậy chuyện bùng phát dịch bệnh, toàn những bệnh tưởng đã thanh toán xong mấy chục năm trước giờ nó cựa quậy hại người, tía giải thích sao?

- Này Hai, đùa dai rồi à nghen! Mày trắc nghiệm IQ của tía đó à?

- Con đâu dám ba trợn với tía, chỉ tại con thực sự không biết mới hỏi thôi! Tía hổng biết thiệt hả tía?

- Tía trả lời nghiêm túc này nghen, chung quy là do biến đổi khí hậu mà ra cả.

- OK tía! Tía thiệt uyên thâm! Con hỏi nhiều chuyên gia họ cũng trả lời y chang tía dzậy đó!

Ngắm đôi rồng dài 35m, nặng 60 tấn

(DiaocNiemtin.com) Đôi rồng bằng gốm sứ dài 35m, nặng khoảng 60 tấn do các nghệ nhân Bát Tràng chế tác đạt kỷ lục Guiness Việt Nam đặt trên mặt Hồ Tây (Hà Nội) hấp dẫn nhiều du khách.




Đôi rồng gốm sứ khổng lồ dài 35m, cao hơn 8m, được các nghệ nhân Bát Tràng (Hà Nội) chế tác từ 6.000 chiếc đĩa và hơn 4.000 cốc nước có men đặc biệt.

Ngày 3-1, đôi rồng gốm sứ thời Lý đạt kỷ lục Guinness Việt Nam đặt tại Công viên Bách Thảo (Hà Nội) từ dịp đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội bắt đầu được dời đến đặt tại hồ Tây - khu vực đường Nguyễn Hoàng Tôn kéo dài với đường dạo ven hồ.

Khu vực đặt rồng năm trên đường Nguyễn Hoàng Tôn (đường ven Hồ Tây) với mặt nước rộng lớn, phía sau là vườn hoa Lạc Long Quân.

Cùng với chùa Tảo Sách, Vạn Niên và tuyến du lịch bằng xe điện chạy quanh hồ Tây, công trình tạo thành một quần thể văn hóa, du lịch xanh dọc đường Lạc Long Quân và quanh Hồ Tây.

Một số hình ảnh về đôi rồng khổng lồ làm bằng gốm sứ trên Hồ Tây:































Cây đa nhiều gốc nhất Việt Nam

(DiaocNiemtin.com) Gốc chính của cây đa khổng lồ ở Hải Phòng phải 4-5 người ôm mới xuể, 12 gốc còn lại đều to và nằm cách nhau cả chục mét.


Với 13 gốc lớn nhỏ, cây đa khổng lồ ở xóm Trại (phường Bạch Đằng, quận Ngô Quyền, Hải Phòng) được vinh danh là cây đa nhiều gốc nhất Việt Nam.




13 gốc của cây đa trổ lên trên diện tích tới vài sào ruộng.




Gốc đa chính cũng là gốc lớn nhất, phải đến 4 đến 5 thanh niên ôm mới xuể.




12 gốc còn lại trổ ra xung quanh gốc chính. Nhiều gốc cũng phải 2- 3 người ôm.




Gốc của cây đa tỏa đi khắp nơi.




Khoảng cách giữa nhiều gốc đa lên tới hàng chục mét.




Chính vì nhiều gốc nên các cành cây nằm lòa xòa sát mặt đất này mới không bị đổ, gẫy.




Gốc chính của cây cao trên 20 m, các gốc còn lại trung bình khoảng 10 m.




Càng ngày, những cành đa càng vươn dài ra xa.




Lâu nay, cây đa 13 gốc trở thành điểm đến thu hút nhiều khách tới tham quan. Ngày rằm, mùng một hằng tháng, đặc biệt là đêm giao thừa, người dân thường tới đây thắp hương, cầu may.

Đầu năm luận bàn về sành ăn


(DiaocNiemtin.com) Sành ăn là gì? Hãy cùng TNTS lắng nghe ý kiến của các chuyên gia ẩm thực và đầu bếp thuộc các quốc tịch và địa hạt hoạt động khác nhau.

Chuyên gia ẩm thực Hồ Thị Hoàng Anh: Tự hào về những món ăn tuyệt vời từ sản vật bình thường của người Việt

Theo tôi, người sành ăn cần phải có kiến thức về nghệ thuật ẩm thực, từng trải, lịch duyệt mới có thể cảm nhận hết sự tinh tế của món ăn. Người sành ăn còn biết chọn thực phẩm theo mùa, biết chọn món ăn theo thời tiết, biết ăn món gì vào lúc nào trong ngày, biết chọn món ăn phù hợp với không gian, biết chọn người cùng ăn...

Chẳng hạn vào mùa thu mát mẻ thì cá đối, cá dìa, cá mòi rất thơm và béo trong khi vào mùa hè, lúc nước sông, đầm khô cạn cá phải chui sâu xuống đáy để tìm thức ăn nên ruột rất hôi bùn. Vào mùa đông, tuy ít cá biển nhưng có cá hanh, cá cấn, cá mại... rất ngon vì sau những trận mưa lụt cá đồng tràn ra sông rất nhiều. Còn mùa xuân là mùa để ăn cá sông bởi thời tiết ấm áp, sông hồ đầy đủ nước nên cá tôm phát triển.

Có những món không bao giờ ăn một mình mà ngon, chẳng hạn như lẩu, bánh xèo, bánh khoái… Nhưng ngồi một mình để thưởng thức từng muỗng chè sen bọc nhãn lồng, nhâm nhi tách trà thơm thì thật thú vị.

Và cũng tùy theo tập quán của từng địa phương, quốc gia mà khái niệm sành ăn lại có sự khác biệt. Ví dụ cũng món gà luộc, ở miền Bắc phải là gà chặt miếng rồi xếp xum xuê lên đĩa, rải thêm lá chanh xắt sợi mới sành điệu; trong khi ở miền Trung thịt gà phải xé ra từng miếng nhỏ bóp với rau răm, muối tiêu chanh thì mới là tao nhã.

Ngoài ra, ở mỗi nước đều có những chuẩn mực ăn uống riêng ví dụ như ở Nhật Bản, khi gắp món sashimi, người ăn nâng niu như ngà như ngọc, khi uống trà thì nâng bát cung kính bằng cả hai tay, nhưng đối với món mì udon khi ăn phải húp xùm xụp ra tiếng thì mới là người biết quý trọng và biết thưởng thức món ăn…

Là người Việt, tôi rất tự hào về khả năng sáng tạo, sự cần cù của dân tộc mình, tạo ra được những món ăn tuyệt vời từ những sản vật hết sức bình thường. Chẳng hạn từ hạt gạo không phải thuộc loại ngon trên thế giới cùng với giống bò gầy gò, thịt dai, người Việt đã nghĩ ra món phở nổi tiếng thế giới; hay từ loại gạo bể tưởng như vứt đi, món cơm tấm hấp dẫn đã ra đời.



Chị Hồ Thị Hoàng Anh là chuyên gia ẩm thực cung đình Huế, từng giới thiệu ẩm thực Việt ra nhiều nước trên thế giới như Pháp, Đức, Nhật Bản, Mỹ, Thụy Điển, Hàn Quốc… Sinh ra trong một gia tộc có truyền thống nấu ăn trong cung đình triều Nguyễn, tại Festival nghề truyền thống Huế 2011 vừa qua, chị Hoàng Anh đã phục dựng thành công yến tiệc cung đình triều Nguyễn sau hơn 65 năm vắng bóng.

Đầu bếp Timo Reuss: Người sành ăn yêu cầu rất cao

Tôi đã làm việc ở 9 quốc gia khác nhau, trong đó có những nhà hàng 3 sao Michelin (tức cao cấp nhất theo tiêu chí của Michelin). Tại những nơi như thế này, 300 USD cho một phần ăn là chuyện bình thường.

Vốn là những người thường xuyên ăn ở những nhà hàng cao cấp, họ yêu cầu rất cao. Họ chọn những nguyên liệu cao cấp như gan ngỗng, trứng cá, tôm hùm, nấm truffle… Một ký nấm truffle trắng hiện có giá chừng 4.000 USD. Với họ, loại nấm truffle ngon nhất phải là nấm của Ý, dầu ô liu cũng từ Ý, còn gan ngỗng thượng hạng có nguồn gốc ở Pháp…

Nhà hàng chúng tôi từng phục vụ nhiều thực khách sành ăn. Có những người đem theo một loại rượu đặc biệt nào đó và yêu cầu chúng tôi thiết kế những món ngon nhất phù hợp với loại rượu đó.

Tất nhiên, để làm được điều này, đầu bếp phải am hiểu về rượu. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng tổ chức những buổi tiệc gọi là wine diner, trong đó thức ăn được nấu phù hợp với một loại rượu đặc trưng, như một bữa tiệc gần đây với giá 3 triệu rưỡi/phần ăn.

Chỉ riêng chuyện biết được loại rượu nào đi với thức ăn nào đã là cả một nghệ thuật với quá trình học hỏi và tích lũy kinh nghiệm đầy công phu.



Ông Timo Reuss là bếp trưởng điều hành của khách sạn 5 sao Caravelle (TP.HCM). Ông từng làm việc tại các nhà hàng nổi tiếng ở Đức, Anh, Thụy Sĩ, Pháp và 4 nước châu Á khác trước khi sang Việt Nam.

Đầu bếp Lê Văn Quang: Người Hồng Kông sành ăn hải sản nhất!

Nếu nói riêng về hải sản, cá nhân tôi thấy người Hồng Kông là sành ăn nhất. Cứ nhìn vào cách họ chọn hải sản là biết.

Chẳng hạn như với cua, người Hồng Kông thường chỉ ăn cua cốm, loại khoảng 300-400 gr. Con cua cốm giống như thiếu nữ ngay trước tuổi dậy thì, thịt của nó đang ở giai đoạn ngon nhất, ngọt nhất, chắc nhất nhưng lại rất mềm, ăn vào thấy rất mịn. Trong khi đó, một con cua đực to cũng rất chắc, có điều thịt lại khô và cứng. Với cá mú, người Hồng Kông thường chọn cá mú đỏ vì loài cá biển này sống xa bờ, đồng nghĩa với mức độ ô nhiễm thấp hơn so với cá mú đen.

Tôi từng bị một vị khách Hồng Kông gọi ra, bảo rằng con cá mà ông vừa ăn đã nằm trong hồ 3-4 ngày rồi. Ông nói hoàn toàn chính xác dù nó vẫn còn bơi tung tăng trước khi đem nấu.

Sành ăn thể hiện không chỉ ở những món đắt tiền. Thực khách sành ăn rất tinh tế ngay cả với đĩa rau muống xào. Tôi chỉ chọn được rau muống ở một đầu mối duy nhất với cọng trắng, độ giòn rất cao. Loại tỏi xào với nó thì chỉ có thể là tỏi Lý Sơn, nhưng cũng phải kén loại rất nhỏ, vốn thơm hơn, giòn hơn và cũng hiếm hơn, đắt hơn tỏi lớn.




Anh Lê Văn Quang là bếp trưởng của nhà hàng hải sản Song Ngư (TP.HCM), nơi có rất đông khách nước ngoài đến thưởng thức những món hải sản cao cấp. Các món ăn của anh từng được nhiều kênh truyền hình nước ngoài giới thiệu cho khách du lịch trước khi họ đến VN.

Chuyên gia ẩm thực TakaKo Fujita: Người Nhật Bản muốn giữ lại trọn vẹn hương vị Sành ăn không phải là chú trọng đến những món ăn quá "hoành tráng", trình bày quá rực rỡ. Người sành ăn biết dùng các nguyên vật liệu đúng, hài hòa, cân bằng giữa các nguyên liệu và gia vị. Với một đầu bếp, một món ăn thành công phải chế biến cho phù hợp với người thưởng thức, tình trạng sức khỏe, tuổi tác của họ, đáp ứng đúng yêu cầu. Người Nhật Bản thường không sử dụng nhiều gia vị trong món ăn vì họ rất tôn trọng hương vị của thực phẩm, muốn giữ lại trọn vẹn hương vị đó. Món ăn Nhật Bản rất chú trọng đến sự trình bày đẹp mắt và rất tốt cho sức khỏe, tôi nghĩ đó là lý do khiến ẩm thực nước này nổi tiếng trên thế giới.

Có nhiều người rất sành ăn. Chẳng hạn tôi từng gặp một người biết rõ loại cá mà tôi dùng trong món sushi được ướp trong thời gian bao lâu, dùng bao nhiêu giấm, bao nhiêu muối. Thậm chí ông còn nói trúng phóc đó là cá bắt bằng lưới hay cá câu! Đối với cá bắt bằng lưới, thịt cá bị mềm, không ngon bằng cá câu vì nhiều loại cá trong lưới va đập với nhau. Những người sành ăn như thế, có thể phát hiện được những chi tiết nhỏ nhất trong quá trình lựa chọn nguyên liệu và nấu nướng.




Bà Takako Fujita là một chuyên gia ẩm thực nổi tiếng của Nhật Bản, từng đến nhiều nước để giới thiệu ẩm thực Nhật Bản trong các chương trình giao lưu văn hóa của chính phủ nước này, trong đó có Việt Nam. Bà cũng là giám đốc của Trường dạy nấu ăn Fujita ở Nhật.

Kiều Oanh

Kinh nghiệm viếng chùa bà Châu Đốc

(DiaocNiemtin.com) Gần đến ngày viếng bà chúa xứ núi Sam, một trong những lễ hội lớn được công nhận lễ hội văn hóa cấp quốc gia. Có đến đây, du khách mới có thể cảm nhận được sự tâm linh của đông đảo người dân dành cho bà chúa xứ núi Sam là như thế nào…


Người “tặng lôc bà” đang hoành hành tại chùa bà núi xứ núi Sam

Tuy nhiên, khi đến những ngày này một điều quan tâm nhất của ban quản lý chùa bà cũng như chính quyền sở tại là nạn lọc lừa, dụ, gạt và rồi móc túi du khách diễn ra nhan nhản. Sau đây một vài lưu ý được Cổng thông tin sổ tay du lịch và khám phá tổng hợp từ độc giả gởi về, mong các bạn có một mùa viếng chùa khỏe và trọn vẹn:

- Lễ vật: Lễ vật cúng bà được đông đảo người đi hành hương là heo quay, từ đó xảy ra dịch vụ cho thuê heo quay mướn. Du khách đến đây, có thể thuê heo quay được tính bằng Kg, sau khi cúng vái xong thì chú heo quay ấy sẽ trở về vòng quay cho thuê người tiếp theo…liệu như thế bạn chứng tỏ lòng thành của mình hay chỉ là góp phần cho nạn cò heo quay lộng hành??

- Giá cả: Trả giá là điều cần phải làm khi đến Châu Đốc nhất là nhà nghỉ, lễ vật…vào những ngày đỉnh điểm của lễ hội nếu không bạn sẽ là người bị hại nhiều nhất.

- Ăn xin: Tình trạng ăn xin diễn ra rầm rộ khi ngày lễ diễn ra, đừng nên cho tiền ăn xin vào ngày này nếu như bạn muốn bị hàng chục người ăn xin khác vây bạn như thể bạn là một “ngôi sao”. Mặc khác, tình trạng giả bệnh, giả cụt chân, tay…được biến hóa một cách rất tài tình…lợi dụng tình trạng này mà móc túi, giật đồ diễn ra mà bạn không hay biết.

- Lộc “trời cho”: Bạn đang thẩn thần thành tâm viếng chùa, bỗng một người lạ đến đưa bạn một túi nhỏ trong đó đủ thứ những vật cúng hoặc một tờ giấy 500 đồng được xếp theo đủ kiểu dúi vào tay, túi áo…cho bạn, ngay lập tức hãy trả lại hoặc bỏ mà đi vào chùa nếu như bạn không muốn bị dính vào cảnh người dúi túi lộc đó cho bạn đi theo xin tiền “trả lễ”. Tuy là nói tùy hỷ, nhưng nếu bạn trả lộc ít thì bạn sẽ nhận ngay những lời lẽ thô tục dần dập vào bạn.

- Chen lấn: Không thể tránh khỏi khi mà hàng trăm ngàn người đổ về chùa bà cùng lúc. Đây là cơ hội của bọn móc túi rinh tiền, điện thoại, nữ trang của bạn, do đó khi đã viếng bà những ngày này tuyệt đối không nên mang nữ trang trên người, điện thoại và ví tiền nên bỏ vào tùi quần có dây kéo cẩn thận và khó luồng tay vào được.

Một vài kinh nghiệm chia sẻ độc giả khi mà ngày lễ hội chùa bà chúa xứ núi Sam sắp diễn ra. Mong các độc giả có một chuyến đi trọn vẹn tâm linh lẫn hành hương của mình.

Nguồn: www.sotaydulich.com

Truyền thuyết về vị trí Miếu Bà Chúa Xứ





(DiaocNiemtin.com) Miếu Bà Chúa xứ là một di tích nổi tiếng ở Núi Sam, hàng năm thu hút gần 2 triệu lược người đến cúng bái, tham quan. Khách hành hương, du lịch không những đến từ các tỉnh lân cận mà còn từ các tỉnh xa như miền Đông, miền Trung… tạo nên một mùa lễ hội sôi nổi, đông đảo ở núi Sam suốt nhiều tháng.

Miếu Bà có từ bao giờ? Đến nay chưa có sử liệu nào ghi lại một cách chính xác. Trong dân gian tương truyền rằng: Cách đây gần 200 năm, núi Sam còn hoang vu, cây cối rậm rạp, nhiều thú dữ, dân cư thưa thớt, giặc biên giới thường sang khuấy nhiễu.

Một hôm, có một toán giặc Xiêm leo lên núi Sam phát hiện được pho tượng cổ bằng đá rất đẹp. Động lòng tham, chúng xeo nại, tìm cách khiêng đi nhưng không thể nào xê dịch được. Sau hàng giờ vất vả với pho tượng, chúng tức giận đập phá làm gãy cánh tay trái pho tượng.

Sau khi chúng bỏ đi, trong làng có một bé gái đang đùa giỡn bỗng dưng ngồi lại, mặt đỏ bừng, đầu lắc lư, tự xưng là Chúa xứ thánh mẫu, nói với các bô lão: “T ượng bà đang ngự trên núi, bị giặc Xiêm phá hại, dân làng hãy đ ưa Bà xuống”. Dân làng kéo nhau lên núi, quả thật t ượng Bà đang ngự gần trên đỉnh. Họ xúm nhau khiêng t ượng xuống làng nhằm mục đích để gìn giữ và phụng thờ. Bao nhiêu tráng đinh lực điền đ ược huy động, các lão làng tính kế để đ ưa t ượng đi, nh ưng không làm sao nhấc lên đ ược dù pho t ượng không phải là quá lớn, quá nặng.

Các cụ bàn nhau chắc là ch ưa trúng ý Bà nên cử ng ười cầu khấn. Quả nhiên bé gái hôm nọ lại đ ược Bà đạp đồng mách bảo: “Hãy chọn chín cô gái đồng trinh để đem Bà xuống núi”.

Dân làng mừng rỡ tuyển chọn chín cô gái dẫn lên núi, xin phép Bà được đưa cốt tượng xuống. Lạ thay, chín cô gái khiêng bà đi một cách nhẹ nhàng.

Xuống đến chân núi, tượng bỗng nặng trịch, các cô phải đặt xuống đất và không nhấc lên nổi nữa. Dân làng hiểu rằng Bà muốn ngự nơi đây nên tổ chức xin keo, được Bà chấp thuận và lập Miếu thờ. Hôm đó là ngày 25 tháng 4 âm lịch, dân làng lấy ngày này làm lễ vía Bà.

Lúc đầu, miếu Bà được xây dựng đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng, lưng quay về vách núi, chánh điện nhìn ra cánh đồng bát ngát. Sau nhiều lần trùng tu, miếu Bà khang trang hơn. Năm 1870, miếu được xây lại bằng đá miểng và lợp ngói, thu hút khách thập phương đến chiêm bái, tín ngưỡng.

Đến năm 1972, miếu được xây dựng mới, đồ sộ và lộng lẫy theo lối kiến trúc cổ kính phương Đông. Mái cong nhiều tầng lợp ngói xanh, tường ốp gạch men bóng láng nhập từ nước ngoài, các khung cửa bằng gỗ quí được chạm trổ hoa văn công phu, mỹ thuật. Chánh điện cao rộng, thoáng khí, vừ uy nghi vừa ấm cúng. Công trình là một quần thể hoành tráng trên mặt bằng rộng với dãy đông lang, tây lang, nhà khách…bao bọc xung quanh cũng với kiến trúc mái cong, lợp ngói xanh, theo đồ án của kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng, nhưng xây dựng dở dang. Mãi đến năm 1995, Ban Quản trị lăng miếu núi Sam mới tiếp tục xây dựng phần còn lại. Trường học được cải tạo thành nhà trưng bày đồ sộ, hài hòa với miếu.

Tượng Bà đặt giữa chánh điện, đội mão sặc sỡ, mặc áo bào thêu rồng phụng, kim tuyến lấp lánh. Khách hành hương đã dâng cúng cho Bà hàng ngàn áo mão, không sử dụng hết, có cái được may từ nước ngoài trị giá vài cây vàng.

Tượng Bà là một tác phẩm nghệ thuật tạc bằng đá son, có từ thế kỷ thứ 6. Dáng người ngồi nghĩ ngợi, khoan thai, thuộc loại tượng thần Vít-nu, có nhiều ở Ấn Độ, Lào, Campuchia. Trước kia có nhiều hình thức cúng bái mê tín như xin xăm, xin bùa, uống nước tắm Bà để trị bệnh… Ngày nay, những hủ tục đó không còn nữa. Đa số khách đến viếng thăm để dâng hương cầu tài, cầu lộc, thể hiện lòng tạ ơn Bà bằng nhiều hình thức: Cúng heo quay, cúng tiền, lễ vật lưu niệm hoặc các tiện nghi phục vụ cho miếu. Các vật lưu niệm ngày nay quá nhiều, Ban Quản trị đưa vào khu nhà lưu niệm để trưng bày. Tiền hỉ cúng hàng năm lên tới vài tỉ đồng (trong đó có vàng, đô-la). Nguồn tài chánh này ngoài việc trùng tu, xây dựng lăng, miếu còn góp phần vào nhiều công trình thủy lợi xã hội địa phương như làm đường, xây trường học, bệnh xá, đóng góp quỹ từ thiện, khuyến học…

Các lễ cúng ở miếu Bà vẫn được duy trì theo nghi thức cổ truyền. Vào lúc nửa đêm 23 rạng 24 tháng tư âm lịch, lễ tắm Bà được tiến hành khoảng hơn một giờ đồng hồ nhằm lau sạch bụi bặm sau một năm dài. Lễ được chuẩn bị từ lúc 23 giờ 30 và bắt đầu lúc 0 giờ. Các vị bô lão trong lễ phục áo dài khăn đóng lên đèn, niệm hương, dâng rượng, dâng trà… Xong phần nghi thức, khoảng 4 đến 5 phụ nữ đứng tuổi, có uy tín trong làng tiến hành việc tắm Bà. Sau khi cởi áo mão, các vị dùng nước sạch có ngâm hoa lài tỏa mùi thơm ngào ngạt để lau cốt tượng. Xong, xịt nước hoa rồi mặc áo mão mới cho Bà. Mặc dù công việc được thực hiện sau bức màn che nhưng có hàng ngàn người chen chúc nhau đến chứng kiến ngoài vòng rào chánh điện.

Lễ túc yết và lễ xây chầu được tiến hành trong đêm 25 rạng 26 tháng 4 âm lịch, đây là cuộc lễ chính trong lễ hội vía Bà. Từ đầu hôm, hàng chục ngàn người đã tụ về miếu Bà để được tham dự cuộc hành lễ này. Trước đó, hồi 15giờ cuộc lễ thỉnh sắc thần được tiến hành trọng thể trong tiếng trống lân rộn rã. Các bô lão và thanh niên trong lễ phục, xếp hai hàng dưới bóng cờ, lộng sặc sỡ, hộ tống long đình rước bài vị của ông Thoại Ngọc Hầu và hai vị phu nhân từ lăng về miếu.

Đúng 0 giờ, cuộc lễ túc yết bái bắt đầu với sự điều khiển của chánh bái và bốn đào thầy. Lễ vật dâng cúng là một con heo trắng đã cạo mổ xong và một dĩa mao huyết tượng trưng cho con heo sống cùng với các mâm xôi, ngũ quả… trong tiếng nhạc lễ và chiêng trống trỗi lên từng hồi, ông chánh bái và các đào thày dâng hương, dâng rượu, đọc văn tế, dâng trà. Lễ xây chầu được nối tiếp khi ông chánh bái cầm nhành dương vãi nước và đọc: “Nhất xái thiên thanh, nhị xái địa ninh, tam xái nhơn đường, tứ xái quỉ diệt hình” (có nghĩa là thứ nhất vãi lên trên trời xanh mong điều cao đẹp, thứ hai vãi xuống đất cho được màu mỡ, trúng mùa, thứ ba vãi loài người được trường thọ, thứ tư vãi diệt loài quỉ dữ). Xong, chánh bái ca công nổi trống ba hồi. Đoàn hát bộ trên sân khấu trong võ ca trước chánh điện đã chuẩn bị sẵn, nổi trống theo và kéo màn trình diễn.

Đến 4 giờ sáng ngày 27 tháng 4 âm lich, lễ chánh tế được tiến hành như lễ túc yết nhưng đơn giản hơn. Và 15 giờ cùng ngày đoàn thỉnh sắc làm lễ hồi sắc, đưa bài vị ông Thoại Ngọc Hầu và hai phu nhân trở về lăng, kết thúc một mùa vía.

Theo thixachaudoc.com

Linh Sơn Thánh Mẫu - Núi Bà Đen

Non linh đất phước trổ hoa thần,
Riêng chiếm vườn hồng một cảnh xuân.

Tuyết đượm nhành tiên in sắc trắng,
Sương pha bóng nguyệt ánh màu ngân...


1- Lễ vía Bà Đen/Linh Sơn Thánh Mẫu cử hành vào ngày 5.5 âm lịch. Song Hội xuân ở núi Điện Bà thu hút đông đảo khách hành hương lại là 3 tháng đầu năm, mặc dù lễ hội chính là Rằm đến 18 tháng Giêng. Đi chùa quanh năm không bằng rằm tháng giêng...



Năm 1901, theo lời mời của các bạn thơ ở Tây Ninh, bà Sương Nguyệt Anh (con gái cụ Đồ Chiểu và là chủ bút tờ báo phụ nữ đầu tiên ở xứ ta là Nữ giới chung) cùng họ hành hương lên núi Điện Bà, nhân đó thưởng hoa bạch mai nở trắng rừng. Thừa hứng, bà đề vịnh bạch mai trên chùa núi và rồi, viết tiếp hai bài thơ thất ngôn chữ Hán để tặng càc thi hữu, tựa là Linh sơn nhất thụ mai. Ông Tô Ngọc Đường giữ thủ bút này mãi về sau như một kỷ niệm quí báu, đến những năm 1970 đưa cho ông Huỳnh Minh chụp ảnh công bố trong sách Tây Ninh xưa và nay...

Câu chuyện văn chương còn dài xin gác lại. Ở đây, chúng ta thấy núi Điện Bà đến những năm đầu thế kỷ XX đã trở thành một địa điểm hành hương - du lịch, thu hút khách xa tận miệt Sài Gòn. Tây Ninh nói chung, núi Điện Bà nói riêng, bấy giờ là vùng “hậu bối” nguyên sơ của xứ đô hội phù hoa Sài Gòn - Gia Định, nơi đang diễn ra cuộc tranh thương gay cấn và sự va đập của phong hoá mới - cũ, với sự lấn lướt của lối sống tân thời. Tuồng như bấy giờ Tây Ninh là một tụ điểm của tầng lớp trung lưu hoài cổ. Võ Sâm biên soạn tuyển tập văn học cổ Thi phú văn từ và tập hợp quanh ông những danh sĩ địa phương để ngâm thơ xướng hoạ. Kế đó Quốc Biểu Nguyễn Cư Hiến thành lập Văn đàn Quốc Biểu (1923) hội họp nhau bàn luận văn chương và sáng tác hàng tuần vào mỗi chủ nhật ở Gò Chẹt... Tất thảy việc ngâm thơ xướng hoạ, lên núi thưởng hoa, vịnh thơ... nghe như đượm cái dư vị của tao đàn Chiêu Anh Các, của Bạch Mai/ Sơn Hội thi xã của một thời quá vãng. Lại cả Thiền sư Từ Phong từ Chợ Lớn cũng lên Tây Ninh lập chùa Từ Lâm ở Gò Kén và những thành viên của một tôn giáo mới với xu hướng trở về với nguồn cội Nho - Phật - Lão (qui nguyên tam giáo) đậm tính chất tiên đạo là đạo Cao Đài cũng chọn Tây Ninh làm nơi khai đạo và đặt trụ sở toà thánh... Một cái nhìn toàn cảnh như vậy là nhằm chỉ ra những tiền đề lịch sử - văn hoá của tín ngưỡng thờ Bà Đen/ Linh Sơn Thánh Mẫu và xác lập thời điểm của mức độ phát triển vượt khỏi không gian văn hoá địa phương sở tại của địa điểm thiêng này là đầu thế kỷ XX, để đến năm Bảo Đại thứ 10 (1935), vị thần linh dân dã Bà Đen/ Linh Sơn Thánh Mẫu đã có đủ uy linh và “thế lực” được sắc phong làm “Đức Bảo Trung hưng linh phù chi thần”.



2. Núi Bà Đinh/ Bà Đen là ngọn núi duy nhất trong mục “sơn xuyên” của trấn Phiên An trong sách Gia Định thành thông chí (GĐTTC). Theo ghi chép này thì núi Bà Đinh: 1) trên núi có chùa Vân Sơn; 2) ở đó có “Thôn lạc của người Thượng (hiểu là các dân tộc ít người) và người Kinh sống nhờ vào khai thác lâm sản; 3) tương truyền: có khi “thấy cả chuông vàng trong hồ”, “những đêm trời tạnh thuyền rồng bơi lặn trong hồ” (1).

Các chi tiết của đoạn ghi chép này có mấy điều đáng lưu ý khi truy nguyên về tập tục thờ Bà Đen ở núi này.

a. Một là tên núi được ghi âm là Bà Đinh. Tên gọi này cũng thấy ghi chép tương tự trong Đại Nam liệt truyện tiền biên (biên soạn 1852), mục nói về Nguyễn Cư Trinh, năm 1755, đưa 5.000 dân Côn Man (Chăm) về đóng ở dưới chân Bà Đinh sơn (2). Điều này đã chỉ ra tên gọi Bà Đen của núi này (và về sau, là tên của vị nữ thần chính được thờ tự ở đây) đến thế kỷ XIX là chưa định danh. Nói cách khác, Bà Đinh/ Bà Đen là địa danh phiên âm chứ không phải địa danh có nghĩa, tức do nơi này đã là nơi thờ tự một nữ thần là Bà Đen nên được gọi tên là núi Bà Đen như cách hiểu về sau này. Do đó, việc truy cứu nguyên uỷ của vị nữ thần này buộc phải tìm tòi ở một hướng khác: các tư liệu lịch sử - văn hoá của các tộc người cộng cư với người Kinh ở khu vực này, tức cộng đồng mà tác giả GĐTTC gọi là cộng đồng man/ thượng/ mọi (tuỳ theo từng dịch giả) - mà cụ thể là người Khmer và người Chăm (tức những người Côn Man định cư ở đây từ 1755).

Trong kho tàng truyện dân gian Khmer, có nhiều câu chuyện dựng theo môtip “trai gái thi nhau đắp núi”: phe nào đắp cao hơn (trong một đêm) thì giành phần thắng, buộc phe kia phải đi cưới. Dị bản nói về sự ra đời của núi Bà Đen kể rằng: bên phụ nữ đắp núi Bà Đen và bên nam giới đắp núi Cậu. Bên phụ nữ, do Mê Đêng/ Mê Đênh cầm đầu, đã cố công đắp ngọn núi. Còn bên nam giới ỷ lại, cứ lo vui chơi nên thua cuộc. Sáng ra, núi Câêu thấp hơn núi Bà và bên nam giới đã xui một con voi đến phá núi nhưng chưa kịp phá thì Mê Đeng làm phép, voi hoá thành đá. Chàng trai nọ lại xúi bầy heo rừng xộc đến ủi núi Bà cho sụp. Bầy heo bị nên nữ làm phép hoá thành một ngọn núi nhỏ - gọi là núi Heo và bên nam giới lại sai bầy gà đến bới núi Bà: cũng bị hoà thành một ngọn đồi. Cuối cùng chàng trai đích thân phá núi: hốt đất rải tứ tung. Do vậy, núi Bà Đen đến nay vẫn còn 3 ngọn núi, đồi nằm bên cạnh, được gọi là núi Tượng, núi Heo, núi Gà và những đồi thấp bên chân núi Bà Đen.

Theo sự tích này, Mê Đêng có thể được lấy tên chỉ định cho núi và có thể được tôn thờ và lưu truyền qua thời gian. Trường hợp có phần tương tự như ao Bà Om ở Trà Vinh. Cụ thể là Phnom Mê Đêng về sau âm là Bà Đinh/ Bà Đen và vị nữ thần được tôn thờ trên hang đá cũng được gọi là Bà Đen (3).

b. Tập tục thờ Bà Đen cũng có thể bắt nguồn từ tín ngưỡng Khmer, mà phổ biến, vị nữ thần này được định danh là Dây Khmau/ Dì Đen (như tượng đồng đen thờ ở Sala chùa Sần-ke (xã Trường Khánh, Long Phú, Hậu Giang) hay phổ biến hơn là Arặc Khmau (Arặc Đen) của tín ngưỡng Arặc - nữ thần bảo hộ thị tộc, mang tính chất saman giáo/ đồng bóng. Thoạt tiên, vị nữ thần này được coi như bà tổ của một dòng họ và về sau được đồng nhất với các nữ thần Bà la môn giáo, một số được định danh bằng tên gọi các màu sắc: đen (khmau), đỏ (càhom), xanh (khiêu)... Hiển nhiên, tập tục thờ một nữ thần khmau/ đen là phổ biến trong tín ngưỡng Khmer, nhưng khả năng từ Arặc khmau/ Dây khmau có thể dịch nghĩa trở thành Bà Đen là đặc biệt hiếm, vì hầu như các trường hợp “Việt hoá” phổ biến là phiên âm. Hiểu là không dịch nghĩa. Chẳng hạn xứ Tưk khmau (nước đen) được gọi là Cà Mau hay xứ Mê So (Nàng Trắng) được gọi là Mỹ Tho, Sva Ton (khỉ níu) được gọi là Xoài Tón (Tri Tôn) v.v. Nói cách khác, chúng tôi vẫn thiên về ý kiến trình bày ở mục 1 trên đây hơn là trường hợp sau này. Tất nhiên, ở đây cũng cần lưu ý rằng việc gọi vị nữ thần ở núi Điện bà là Bà Đen, về mặt ngữ nghĩa, đã cho thấy sự xác định đây là một nữ thần gốc sắc tộc có màu da sậm/ đen.



c. Tác động của tín ngưỡng Chăm vào Bà Đen là một khả năng có thể có từ sự giao lưu văn hoá do quá trình cộng cư của cộng đồng Chăm/ Côn man từ giữa thế kỷ XVIII (kéo dài về sau). Ở vùng núi này, chúng ta có địa danh Hang Chàm (và ở gần chợ Tây Ninh có địa danh Cống Chàm): song rõ ràng đây là cách gọi của người Việt, tức không chỉ rõ hướng ảnh hưởng từ Chàm đến Việt. Biểu hiện rõ giao lưu văn hoá Chàm - Việt là việc gọi tên núi Bà Đen là núi Bà và ngọn núi phía Dầu Tiếng là núi Cậu. Bà-Cậu gốc từ tập tục tín ngưỡng Pô Inư Nagar (Mẹ Xứ Sở/ Chúa Xứ). Theo thần tích của nữ thần Mẹ Xứ Sở này, tức Thiên y Ana, thì bà có hai người con với Thái tử Bắc Hải: cậu Trài, cậu Quí - được thở phụng phổ biến ở Nam Bộ với danh hiệu Nhị vị công tử. Do đó, việc gọi núi Bà Đen là núi Bà trong tâm thức văn hoá tín ngưỡng Chăm/ Côn Man ở đây hẳn có sự đồng nhất vị thần trên núi Điện Bà với Mẹ Xứ Sở/ Pô Inư Nagar. Điều này cho thấy khả năng đồng nhất Bà Đen với nữ thần Muk Juk (hiểu là Mụ Đen) và mặt khác, chứng tích của tục thờ Cậu ở núi Điện Bà là ngôi miếu Cậu hiện tồn.

3. Đối với người Việt, Bà Đen có hai thần tích: 1.Nàng Đênh và 2.Lý Thị Thiên Hương. Cả hai đều có mỹ hiệu là Linh Sơn Thánh Mẫu.

a. Cứ như GĐTTC (đầu thế kỷ XIX) đã ghi thì trên núi có chùa Vân Sơn và ở Đại Nam nhất thống chí (cuối thế kỷ XIX) thì gọi là chùa Linh Sơn. Về tự dạng hán tự, chữ Vân và chữ Linh có tự dạng giống nhau nên “Linh” có thể chép nhầm là Vân. Ngược với giả định chép lầm, chúng ta thấy thoạt đầu trên núi có một ngôi chùa với tên gọi là Vân Sơn có tính hiện thực: núi cao có mây phủ và mang màu sắc thoát tục của tiên đạo hơn là Phật giáo. Điều đó cũng hợp hơn những truyền thuyết về chuông vàng, rùa vàng và thuyền rồng bơi lượn múa hát - du dương mà tác giả GĐTTC đã chép. Rồi về sau mới đổi tên là Linh Sơn do là sự cải đổi theo quan niệm chính thống của Phật giáo mặc dù vẫn còn tồn tại tên gọi là Điện Bà Sơn (Đại Nam nhất thống chí). Linh Sơn (núi linh) chỉ ngọn núi có hình con ó (núi Kênh kênh) gần thành Vương Xá (Rajagriha); tên gọi theo âm Phạn là Kỳ Xà Quật (Garudhakuta) - dịch nghĩa theo truyền thống Phật giáo Bắc truyền là Thứu Sơn, Linh Thứu Sơn, Kê Túc Sơn. Theo truyền thống Ấn Độ, Linh Sơn là ngọn núi thiêng, nơi các thiên thần thường hiện về. Khi Đức Phật tại thế, Phật đã thuyết pháp ở đây và về sau, núi Kênh Kênh trở thành một trong những thánh địa Phật giáo nổi tiếng. Theo đó, các xứ khác, như Trung Hoa, Việt Nam thường đặt tên các sơn tự là Linh Sơn tự, Thứu Sơn/ Thứu Lĩnh tự...

Theo lịch sử truyền thừa, thì chùa Linh Sơn trên núi Điện bà do Hoà thượng Thiện Hiếu - Đạo Trung, thuộc Thiền phái Lâm Tế đời 36, khai sơn. Hoà thượng Thiện Hiếu là một cao tăng, có nhiều công đức lợi lạc quần sanh. Thiền sư rời chùa Linh Sơn về tu hành ở am cỏ xứ Bưng Đĩa (Thủ Dầu Một) - sau, nơi đây được tăng chúng dựng nên cảnh chùa, gọi là chùa Hưng Long. Vấn đề liên quan đến việc đang bàn là niên đại Hoà thượng Thiện Hiếu khai sơn chùa Linh Sơn vì chính niên đại khai sơn này có liên quan đến thời điểm Bà Đen được Phật giáo hoá thành Linh Sơn Thánh Mẫu.

Theo các cứ liệu thành văn, Hoà thượng Đạo Trung - Thiện Hiếu tịch ngày 20 tháng 12 năm Kỷ Mùi tại chùa Hưng Long và đồ chúng lập tháp thờ ở khuôn viên chùa (4). Tháng 12 Kỷ Mùi (có thể là 1800 hay 1860). Ở đây chúng tôi thiên về niên đại muộn 1860, vì có phần hợp lý hơn theo lịch sử truyền đăng của chùa Linh Sơn thì các trụ trì chùa Linh Sơn sau đó là: 1. Tánh Hiền - Quảng Thông (?), 2. Thanh Thọ - Phước Chí (tại vị 1871-1880), 3. Trừng Tùng - Chơn Thoại (1880-1910), 4. Tâm Hoà - Chánh Khâm (1910-1937), 5. Nguyên Cơ - Giác Phú (tại vị 11 tháng,1937), 6. Nguyên Bộ - Giác Ngọc (1946-1951), 7. Nguyên Chất - Giác Điền (1952-1957)... (5). Như vậy, Bà Đen được Phật giáo hoá thành Linh Sơn Thánh Mẫu từ khoảng giữa đến cuối thế kỷ XIX.

b. Công việc kế tiếp của bài viết này là qua hai thần tích về Bà Đen, chúng ta lần lượt tìm hiểu cách thức Phật giáo hoá/ Việt hoá tín ngưỡng này như thế nào.

b.1 Ở thần tích Nàng Đênh, chúng ta còn dấu ấn Khmer Mê Đêng/ Mê Đênh ở tên gọi Nàng Đênh và ở lý lịch của Nàng Đênh: “Tại vùng núi Tây Ninh có một viên quan trấn địa phương người Miên sinh hạ được hai con: một trai tuấn tú, một gái hiền thục gọi là Nàng Đênh” (6). Năm 13 tuổi, Nàng Đênh gặp được một thiền sư “người Tàu từ Bến Cát (Thủ Dầu Một)” và qui y. Lớn lên, cha nàng hứa gả nàng cho trưởng nam con một viên quan ở Trảng Bàng, nhưng “vì nàng đã phát nguyện xuất gia cầu đạo, không chấp nhận lập gia đình để gây mãi kiếp luân hồi khổ não. Một đêm, khi cha mẹ ngủ yên, nàng lẻn đi tìm đạo và biệt tích”. Nàng Đênh qua đời, và do lòng chí nguyện đã đắc quả và hiển linh nên dân chúng tôn thờ (7).

b.2 Ở thần tích thứ hai kề rằng: Bà Đen là hoá thân của cô gái Trảng Bàng, tên là Lý Thị Thiên Hương. Nàng là cô gái sùng mộ đạo Phật. Nàng có lòng yêu chàng trai văn hay võ giỏi trong làng là Lê Sĩ Triệt. Một hôm, tên con trai của quan huyện sai bọn côn đồ chặn đường bắt cóc Lý Thị Thiên Hương về làm thiếp. Giữa lúc đó, Lê Sĩ Triệt xông ra đánh đuổi tên côn đồ giải thoát cho nàng. Cha mẹ Lý Thị Thiên Hương hay chuyện, rất cảm kích đã hứa gả nàng cho Lê Sĩ Triệt. Sau đó, Lê Sĩ Triệt có lệnh phải lên đường tòng quân, Lý Thị Thiên Hương ở quê nhà vò võ trông mong ngày đoàn tụ. Chẳng may, một hôm nàng lên núi Điện Bà lễ Phật lại bị bọn gia nô của tên con quan huyện vây bắt. Thế cô, nàng nhảy xuống hố trên núi tử tiết. Mấy hôm sau, Hoà thượng trụ trì chùa trên núi Điện Bà đang tụng kinh thì Lý Thị Thiên hương hiện hình “người con gái mặt đen nhưng rất duyên dáng” xưng tên là Lý Thị Thiên Hương và kể lại mọi việc. Hoà thượng theo lời mách bảo đi xuống núi tìm được xác dưới hố, đem về an táng. Từ đó, Lý Thị Thiên Hương hiển linh, giúp đỡ những người hoạn nạn và được vua sắc phong (?) là Linh Sơn Thánh Mẫu.








HỆ THỐNG CHÙA PHẬT TRÊN NÚI BÀ ĐEN :

Theo các tài liệu còn lưu trữ, khởi đầu vào thế kỷ XVII sau TL, người Việt đã bắt đầu tới Lục Chân Lạp (Nam Phần) để lập nghiệp và đã dựng trên núi, một ngôi chùa lá không tên, để làm nơi gởi gấm ký thác về thành tâm cầu nguyện các đấng thần linh hộ trì giúp đỡ.

Năm 1745, có Thiền sư Thiệt Diệu (Liễu Quán), thuộc đời thứ 35 của Thiền Phái Tế Thượng Chánh Tông, nhân đi ngang núi Bà Đen, rung động trước sự tĩnh lặng và phong cảnh hửu tình trong vùng, nên Ngài đã quyết định ở lại tu trì. Cũng từ đó, chấm dứt thời kỳ tín ngưỡng dân gian tự phát và một hệ thống chùa Phật được xây dựng tại đây.

Trải qua 252 thành lập, từ Tổ sư thứ 1 cuả Thiền Phái Tế Thượng, tới nay đã truyền được 11 đời. (35-46), nối tiếp nhau khai hóa hành đạo tại núi Điện Bà (Tây Ninh).

Năm 1857, Tỳ Kheo Thanh Thọ (Phước Chi), xây dựng Đại Hùng Bửu Điện và Giảng đường. Năm 1864, Thiền sư Huệ Mạnh, khai mở Linh Sơn Long Châu tự (Chùa Hang), cách chùa cũ chừng 300m. Năm 1871, xây dựng chùa Phước Lâm, trên bờ con sông nhỏ, chảy ngang Ấp Vĩnh Xuân (Chợ Tây Ninh), được xem như tiền trạm của thiện nam tín nữ trên đường lên núi hành hương cúng Phật, nhất là ngày vía Bà mùng năm tháng năm hay Tết Nguyên Đán.

Từ 1880-1910, Thiền sư Chơn Thoại (Trừng Tùng), xây thêm chùa Trung, tyức Linh Sơn Phước Trung, để cho khách leo núi có chỗ nghĩ ngơi. Từ năm 1910 về sau, núi Bà Đen rộng mở, thu hút khách thập phương tới cúng Phật đông đảo. Đây cũng thời gian Hòa Thượng Tâm Hòa, kiến tạo và mở rộng chùa Trung.Từ 1920-1924, toàn thể khu vực quanh chùa được mở rộng, qua hệ thống 21 tu viện chùa am lớn nhỏ. Đồng thời một con đường, dài 1300m, rộng 6m, cũng được hoàn thành, từ chân núi lên chùa, tới nay tất cả vẫn còn lưu dấu.

Năm 1945, quân Nhật chiếm núi Bà Đen, thiêu hủy toàn bộ hệ thống tu viện trên núi. Ngày 2-11-1945 thực dân Pháp thay thế quân Nhật chiếm đóng, ngoài việc đốt phá chùa chiền, còn bắt giết sát hại nhiều tăng ni.

Năm 1954 chia hai đất nước và Tây Ninh thuộc lãnh thổ VNCH, nên Hòa Thượng Thích Giác Điền, trở lại núi, tái tạo lại hệ thống chùa Phật năm xưa, thêm to lớn và đẹp đẽ. Tây Ninh vì gần biên giới Kampuchia, nên được Bắc Việt, chọn đặt căn cứ của Trung ương Cục Miền Nam., gọi tắt là cục R, cách tỉnh lỵ 64 km.

Từ năm 1960-1975, chiến tranh càng lúc thêm ác liệt, các tăng ni trên núi Bà Đen, phải theo Hòa thượng Thích Huệ Phương về tu tại chùa Phước Lâm trong thị xã. Trên chùa chỉ còn hai Ni cô Thích Nữ Diệu Châu và Diệu Nghĩa ở lại lo nhang khói. Núi Bà Đen vắng ngắt mọi người.

Sau năm 1975, đất nước ngưng tiếng súng, cũng nhờ cúng dường của Việt kiều muôn phương, tuôn về giúp xây dựng lại chùa Phật trên núi Bà Đen, hiện do Ni sư Thích Nữ Diệu Nghĩa làm Viện chủ. Từ 1992-1997, trùng tu lại các ngôi chùa Linh Sơn Long Châu tự (Chùa Hang), Linh Sơn Phuớc Trung tự (Chùa Trung) và nhiều chùa Phật khác trên núi. Điện Bà lại mở rộng như từ 300 năm trứơc với khách thập phương lên núi cúng Phật như không bao giờ dứt....



Chú thích

(1) Bản dịch Tu Trai Nguyên Tạo, S, 1972, Tập thượng, tr.37.
(2) Bản dịch Cao Tự Thanh, Nxb KHXH, 1995, chú thích 11, tr.206.
(3) Về từ vựng Khmer, chúng tôi xin chú thích để bạn đọc tham khảo: Mê: thím; hoặc: chủ, người đứng đầu. Ví dụ MêSrôc: chủ sóc, Mê Khum: Xã trưởng; Đênh: đuổi bắt, khảy, đánh (đàn); còn Đen: xứ sở, lãnh thổ, vùng, khu vực. Như vậy Mê Đen: có thể hiểu là chủ/ chúa xứ (xem Hoàng Học: Tự điển Khmer-Việt, Nxb KHXH, H, 1979, tập 1, tr.503,505). Phnom (núi) + (Mê) Đênh/ Đen thường giản lược âm tiết thành Phnom + Đênh/ Đen: Bà Đênh (hay Bà Đen). Về từ Phnom (núi) được âm Việt hoá thành Bà thấy rất phổ biến. Chúng tôi sẽ bàn về hiện tượng này ở dịp khác.
(4) Nguyễn Hiền Đức: Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, tập II, Nxb TPHCM, 1995, tr.343-345.
(5) Tổng hợp tư liệu: Nguyễn Hiền Đức, sđd, và Huỳnh Minh: Tây Ninh xưa và nay, S, tác giả XB, 1972, tr.193-195. Cũng có ý kiến cho rằng Đạo Trung - Thiện Hiếu thuộc tông Liễu Quán, truyền theo bài kệ “Thiệt Tế Đại Đạo...”: Thiệt Diệu - Liễu Quán ---- Tế Hiển - Bửu Dương --- Đai Quang - Chí Thành --- Đạo Trung - Thiện Hiếu. Ở đây, tôi cho rằng Bà Đen biến thành Linh Sơn Thánh Mẫu bắt đầu từ lúc HT. Tế Giác - Quảng Châu (Hải Tịnh / 1788-1875) bắt đầu trang nghiêm ngôi chùa núi này.
(6). (7) Huỳnh Minh: sđd, tr.44.
(8) Đại Nam liệt truyện tiền biên/ Bản dịch Cao Tự Thanh. Nxb KHXH, H, 1995, tr.265.
(9) Gia Định thành thông chí/ Bản dịch Nguyễn Tạo, S, 197, tập thượng, tr.16.
(10) Đại Nam nhất thống chí/ Tỉnh Định Tường/ Bản dịch Nguyên Tạo, Sài Gòn, 1973, tập trung, tr.32.- Huỳnh Minh: Định Tường xưa và nay. Tác giả xuất bản, S, k.n, tr 137-1397.

Theo Kiến Thức Ngày Nay 561

Truyền thuyết về miếu Bà Chúa Xứ

(DiaocNiemtin.com) Miếu Bà Chúa Xứ là một công trình kiến trúc đẹp và tôn nghiêm, tọa lạc dưới chân núi Sam, thuộc phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đây là một di tích nổi tiếng ở khắp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, hàng năm thu hút gần 2 triệu lượt người đến cúng bái, tham quan. Khách hành hương, du lịch đến từ khắp nơi trên cả nước, tạo nên một mùa lễ hội sôi nổi, đông đảo kéo dài suốt nhiều tháng.

Theo số liệu của Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch An Giang, nếu năm 1990 có khoảng 1 triệu du khách đến miếu Bà thì năm 2007 đã có trên 2,5 triệu lượt người đến. Sồ tiền khách thập phương hỷ cúng tại miếu mỗi năm lên đến hàng chục tỷ đồng. Nhiều dự án giao thông, trường học, trạm cấp nước phục vụ cho dân làng Vĩnh Tế đã được xây dựng từ nguồn tiền này.




Thánh miếu bà Chúa Xứ (Châu Đốc - An Giang)

Năm 2001, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được chính thức công nhận là lễ hội quốc gia. Năm 2008, lễ hội được tổ chức với tên gọi Tuần lễ quốc gia Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam. Lễ hội chính thức khai mạc vào tối ngày 25-05 tại Trung tâm thương mại núi Sam. Lễ khai mạc đã thu hút khoảng 10.000 lượt khách trong nước và quốc tế đến tham dự. Dịp này, Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã tiến hành nghi thức trao giấy xác nhận và cúp lưu niệm kỷ lục Việt Nam đối với “Ngôi miếu lớn nhất Việt Nam” và “Tượng bà bằng đá sa thạch xưa và lớn nhất Việt Nam” cho đại diện Ban quản trị lăng miếu núi Sam.

Lịch sử

Miếu Bà có từ khi nào cho đến nay vẫn còn là một điều bí ẩn, nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều cho rằng miếu thành hình sau năm 1824. Tương truyền, lúc đầu, miếu Bà được xây dựng đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng, lưng quay về vách núi, chánh điện nhìn ra cánh đồng bát ngát. Năm 1870, miếu được xây lại bằng đá miểng và lợp ngói. Đến năm 1972, miếu được xây dựng mới, đồ sộ và lộng lẫy theo lối kiến trúc cổ kính phương Đông. Công trình là một quần thể hoành tráng trên mặt bằng rộng với dãy Đông lang, Tây lang, chánh điện, nhà khách…theo đồ án của kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng, nhưng xây dựng dở dang. Mãi đến năm 1995, Ban Quản trị lăng miếu núi Sam mới tiếp tục xây dựng phần còn lại.



Cảnh quan nhìn từ trên xuống





nơi tọa lạc của Miếu Bà cũ

Tương truyền, dưới triều Minh Mạng, khi Thoại Ngọc Hầu giữ trọng trách trấn giữ biên giới Tây Nam, giặc ngoại xâm thường sang quấy nhiễu. Mỗi lần ông xuất quân, bà chánh thất phu nhân Châu Thị Tế thường đến khấn vái, mong Bà phù hộ Thoại Ngọc Hầu đánh thắng giặc, bảo vệ cuộc sống yên lành cho dân. Về sau, để tạ ơn những điều ứng nghiệm, phu nhân Thoại Ngọc Hầu đã cho xây cất lại ngôi miếu to và khang trang hơn. Lễ khánh thành được tổ chức trong 3 ngày 24, 25, 26 tháng 4 âm lịch. Từ đó về sau thành lệ, dân chúng lấy những ngày trên làm lễ Vía Bà. Nếu chi tiết này có thật, thì đây cũng là một thông tin cho biết rằng miếu Bà Chúa Xứ được xây dựng từ thời Minh Mạng.

Kiến trúc

Ngôi miếu có bố cục kiểu chữ 国 - Quốc, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Các hoa văn ở cổ lầu chánh điện thể hiện đậm nét nghệ thuật. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi lộng lẫy. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chánh điện gần như được giữ nguyên như cũ.

Chánh điện gồm hai lớp. Lớp trong cùng là nơi thờ Bà Chúa Xứ với tượng Bà bằng đá đặt trên bệ cao, sát hai bên là hai con hạc trắng biểu tượng cốt cách tiên thánh của Bà. Bên phải tượng Bà là một linga cũng bằng đá đặt trên một hương án thờ, gọi là bàn thờ Cậu. Bên trái tượng Bà là hương án thờ một tượng gỗ chạm hình yoni, gọi là bàn thờ Cô. Lớp thứ hai là bàn thờ Hội đồng, sát liền hai tượng chim phượng. Hai bên trái, phải của bàn thờ Hội đồng là bàn thờ Tiền hiền khai khẩn (ở bên trái) và bàn thờ Hậu hiền khai cơ (ở bên phải).

Ngay lối vào chánh điện có đôi câu đối thể hiện quyền lực linh thiêng của Bà trong việc ban phúc, bảo vệ nhân dân. Nội dung như sau:

求必應試必霛夢中指示

暹可驚清可慕意外難量

Phiên âm:

Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thị

Xiêm khả kinh, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lượng

Dịch nghĩa:

Cầu nhất định được, ban nhất định linh, báo cho biết trong mộng

Người Xiêm phải sợ, người Thanh phải nể, không thể tưởng tượng nổi

Những bí ẩn quanh bức tượng Bà Chúa Xứ

Truyền thuyết


Truyện xưa kể lại rằng: Những năm 1820 - 1825, Quân Xiêm thường sang nước ta quấy nhiễu, cướp bóc. Mỗi khi giặc đến, người dân quanh vùng lại phải bồng bế nhau chốn chạy lên núi lánh nạn. Có lần quân giặc đuổi theo lên đến đỉnh núi Sam thì gặp tượng Bà. Chúng hì hục cậy ra, lấy dây buộc lại dùng đòn khiêng xuống núi để mang về xứ. Nhưng khi bọn chúng mới khiêng đi được một đoạn đường ngắn, lạ thay tượng Bà bỗng dưng nặng trĩu không thể nào nhấc lên được nữa. Khi đó, một tên trong bọn tức giận đập vào cốt tượng làm gãy một phần cánh tay bên trái và ngay tức khắc hắn bị Bà trừng phạt.



Đây là nơi mà người ta đã tìm thấy tượng...




của Bà chúa Xứ ngày trước





Thời gian sau, Bà thường hiện về xưng là Bà Chúa Xứ, dạy dân làng khiêng xuống núi lập miếu thờ cúng. Bà sẽ phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, tránh được giặc cướp quấy phá, thoát khỏi dịch bệnh hoành hành. Thấy vậy, dân làng họp nhau lên núi khiêng tượng về thờ cúng. Nhưng lạ thay, dù mấy chục thanh niên trai tráng hò nhau gắng sức vẫn không lay chuyến nổi tượng Bà. Trong lúc mọi người đang rất thất vọng, có ý định bỏ dở thì một cô gái trong làng bỗng dưng lên đồng cho biết : "Bà chỉ cần 9 cô gái đồng trinh lên khiêng". Dân làng làm theo lời dạy ấy và qủa đúng thật 9 cô gái đồng trinh khiêng tượng Bà đi xuống một cách nhẹ nhàng.

Bỗng nhiên khi đi đến chân núi thì tượng Bà trở nên nặng, không thể khiêng nổi thêm một bước nào nữa. Khi đó mọi người đã hiểu rằng, Bà đã chọn nơi đây để an vị nên đã không cố gắng di chuyển đi nữa mà lập miếu thờ cúng chỗ đó.

Khảo cứu

Các nhà nghiên cứu phỏng đoán tượng Bà được tạc vào thế kỷ VI, theo mô típ tượng thần Vinus thường thấy ở các nước Lào, Campuchia, Ấn Độ. Thực chất, tượng Bà vốn là một pho tượng đá, thể hiện dáng hình một người đàn ông trong tư thế ngồi, chân trái của tượng xếp bằng tròn, mũi bàn chân giáp với chân phải; chân phải để gập, co gối, chống thẳng bàn chân xuống mặt bệ đá. Tay trái của tượng ở tư thế chống nạnh, bàn tay xoải xuống mặt bệ đá, phía sau đùi trái. Tay phải tượng thả tự nhiên, bàn tay úp trên đầu gối phải. Tóc tượng uốn thành những búp xoăn, thả về phía sau. Trên mặt tượng có một vành ngấn, là nơi đặt mão lên đầu tượng. Trong vành ngấn này có những hoa văn hình móc câu, riêng ở phần vành nằm trước trán của tượng có một hình tròn, chung quanh là những hoa văn kiểu ngọn lửa. Trên cánh tay để trần của tượng có một vành đai, giống như cái vòng đeo tay. Toàn bộ dáng hình của pho tượng là dáng hình một người đàn ông tràn đầy sức sống, với bộ ngực căng nở và chiếc bụng phệ. Trên ngực của tượng có một vành đai như vòng kiềng, trước ngực là hình mảnh trăng lưỡi liềm khá rộng. Toàn bộ pho tượng cao chừng 1,25 m, được tạc liền một thớt đá cùng loại, với bệ tượng dày chừng 10 cm. Về trang phục, tượng được tạc trong tư thế đang vận một chiếc khố. Ở bắp cánh tay, gần bả vai của tượng, sát nách, nổi cộm một vòng đai có hình dạng như một chiếc vòng đeo tay. Ở cổ tượng nổi cộm một vòng đai hình vòng kiềng, chỗ vòng nằm ngay ngực khá to, hình lưỡi liềm, có lẽ là một thứ vòng đeo cổ xưa.

Nhà văn Sơn Nam từng viết: "Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miếu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó "Bà Chúa Xứ" là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy.....".

Theo nhà khảo cổ học người Pháp, ông Malleret, trong thời gian tiến hành khai quật khu di chỉ Óc Eo từ năm 1942 đến năm 1944, ông có đến núi Sam nghiên cứu tượng Bà Chúa Xứ và cho biết rằng đây là loại tượng nam thần, được tạo theo dáng người ngồi nghỉ ngơi, vương giả, vật liệu bằng sa thạch, giá trị nghệ thuật cao. Năm 1989, một đoàn ngoại giao Ấn Độ có đến thăm vùng này, vào miếu Bà Chúa Xứ, họ rất ngạc nhiên khi được gặp tượng thần Shivalinga ở khu vực núi Sam trong danh xưng Bà Chúa Xứ.


Lễ hội


Hàng năm, lễ hội “Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” diễn ra từ ngày 23 đến 27-04 âm lịch. Hàng vạn người đổ về dự lễ và tham gia các trò vui như: hát bội, múa võ, ca nhạc ngũ âm, múa lân, đánh cờ... Phần lễ có những nghi lễ chính như sau:


- Lễ “Tắm Bà” (tương tự như lễ mộc dục ở miền Bắc): Được cử hành vào lúc 0 giờ ngày 24-04 âm lịch. Mở đầu lễ, 2 ngọn nến to được đốt sáng lên trong chánh điện. Ông lễ chánh bái nghi cùng với 2 vị bô lão, ban quản lý miếu niệm hương, dâng rượu và trà. Bức màn vải có viền ren lộng lẫy kéo ngang bệ thờ, che khuất khu vực đặt tượng, 9 cô gái trẻ được phân công trước bắt đầu vén màn tắm cho tượng Bà. Đầu tiên là cởi mũ, áo, khăn đai từ lớp ngoài vào trong để lộ toàn thân pho tượng. Những cô gái được phân công việc tắm Bà lần lượt nhúng từng chiếc khăn mới vào chậu nước thơm, vắt ráo rồi lau tượng nhiều lần. Sau đó, họ dùng nước hoa xịt khắp bức tượng rồi chọn bộ đồ mới đẹp nhất khoác lên bức tượng, thắt chặt đai, chít khăn, đội mão, gắn lại những ngọn đèn màu trang trí như cũ. Lễ tắm Bà thường kéo dài khoảng một giờ, sau đó bức màn ngăn được kéo lên để cho khách tự do chiêm bái, dâng hương, hoặc xin lộc Bà. Phần Lễ Tắm Bà kết thúc…Nước tắm cho Bà còn lại sẽ đem hoà trong 2 thùng nước lớn để phân phát cho du khách trẩy hội.

- Lễ Thỉnh sắc: cử hành vào khoảng 16h chiều ngày 25, một đoàn người gồm các bô lão trong làng quần áo chỉnh tề, tiến từ miếu Bà sang lăng Thoại Ngọc Hầu để thỉnh sắc (thật ra, đây là lễ rước bài vị, vì sắc đã không còn). Dẫn đầu có đội múa lân, các học trò lễ tay cầm cờ phướn đi hầu phía trước và sau chiếc kiệu sơn son thiếp vàng gọi là long đình. Đến điện thờ, ông chánh bái làm lễ niệm hương, rồi thỉnh bài vị đưa lên kiệu trở về miếu Bà. Ba chiếc bài vị mang tên Thoại Ngọc Hầu và tên bà vợ chánh Châu Thị Tế, bà vợ thứ Trương Thị Miệt được đặt trên bàn thờ ở chánh điện. Bài vị thứ tư mang tên Hội đồng, ghi công lao các quan quân đã theo Thoại Ngọc Hầu xưa kia, được đặt riêng ở bàn thờ phía trước.

- Lễ Túc yết: được tổ chức lúc 0 giờ đêm 25 rạng 26-04 âm lịch, gồm có hai phần: nghi thức cúng tế và phần xây chầu. Lễ vật dâng cúng gồm có: một con heo trắng, một đĩa huyết heo có kèm theo nhúm lông nhỏ. Một mâm trái cây, trầu cau, gạo, muối. Sau ba hồi chiêng, trống, nhạc lễ nổi lên, lễ dâng hương, dâng trà bắt đầu. Nghi thức cúng tế kết thúc bằng động tác của ông chánh tế đốt bản văn tế cùng giấy vàng bạc. Tiếp theo nghi thức cúng tế là phần xây chầu được tiến hành ở nhà võ ca. Sau phần cầu nguyện của ông Chánh bái, xin cho mưa thuận gió hoà, đất đai phì nhiêu, mùa màng bội thu, dân chúng khỏe mạnh, yên vui, các loài quỷ dữ bị tiêu diệt, lễ Xây chầu bắt đầu bằng ba hồi trống lệnh. Sau đó, chiêng trống rộ lên, chương trình hát bội bắt đầu.

- Lễ Chánh tế: được tổ chức vào tờ mờ sáng ngày 27, gần giống như nghi thức cúng Túc yết.

- Lễ Hồi sắc: cử hành vào khoảng 15h ngày 27-04, đoàn hành lễ sẽ rước bài vị Thoại Ngọc Hầu và nhị vị phu nhân từ miếu trở về Sơn Lăng. Kết thúc lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam.

Miếu Bà chúa Xứ là một trong những danh thắng của núi Lam được nhà nước xếp hạng. Nơi đây đã mang dấu ấn của cả một thời đại hào hùng, thời đại chống giặc ngoại xâm. Và ngay nay miếu Bà Chúa Xứ vẫn thật sự là điểm đến của du khách bốn phương, là nơi mà con người cầu mong về những điều thiêng liêng, tốt đẹp nhất.

Sưu tầm và biên tập (2010)




BBT : truyền thuyết thì bà Chúa Xứ cũng chính là một trong chín vì tiên nữ (Cửu nương) được tôn thờ nơi đạo Cao Đài. Bạn đọc có thể tham khảo thêm về Bà Khiết Cửu nương qua đường dẫn sau đây : "Khiết Cửu nương"

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More