CẦN BÁN LÔ HA1 Ô 6 DỰ ÁN GOLDENCITY GIÁ RẺ NHẤT CHỈ 405TR TẶNG CHẾC XE MÁY!


-NẰM NGAY TRÊN MẶT TIỀN ĐƯỜNG CAO TỐC MỸ PHƯỚC TÂN VẠN RỘNG ( 62M)
-Cách thành phố mới BÌNH DƯƠNG khoảng 4km,dự án golden city cách đạilộ bình dương khoảng 2km
-nằm trong tổng thể KHU ĐÔ THỊ MỸ PHƯỚC 3,SÁT TRUNG TÂM HÀNH CHÍNH QUÃN BẾN CÁT, có công viên cây xanh và nhánh sông thị tính mát mẻ
-   Cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh 90%( đường nhựa, điện nước đầy đủ)

                                          TRƯỜNG TRUNG HỌC
. Sát đường cao tốc tân vạn mỹ phước 62m,nối liền mỹ phước -thủ dầu một-HCM
                              ĐƯỜNG CAO TỐC MỸ PHƯỚC TÂN VẠN
·        Mặt tiền đường ,12m,16m,20m,25m,62m.
·        Golden CiTy: Thiết kế độc đáo-Kiến trúc hiện đại-không gian sống trong lành,tiện ích vượt trội….đầy đủ các tiện ích
·        Đất nền Nhà phố: 5mx20m=100m2;GIÁ 179TR/NỀN ĐƯỜNG 12M
5mx30m=150m2; GIÁ 405TR/NỀN ĐƯỜNG CAO TỐC MỸ PHƯỚC 62M
·   Không  giới hạn thời gian xây dựng ,không bắt buộc xây dựng ngay, cổ đỏ thổ cư,KÝ HĐCN TRỰC TIẾP VỚI BECAMEX UDJ
·        Thanh toán 4 đợt:THAM GIA BỐC THĂM TRÚNG THƯỞNG TỪ 25/09 25/11
-ĐẶC BIỆT MUA  LÔ ĐẤT TRÊN ĐƯỜNG CAO TỐC TẶNG XE MÁY!(WAWE)
TRỊ GIÁ TRÊN 12TR ĐỒNG
·       SỐ LƯỢNG CÓ HẠN!

.mọi chi tiết xin liên hệ: 0909.827.696   MR PHÚ 
                                               SÀN GDBDS NIEMTIN 
·        Có xe đưa khách hàng đi dự án hàng ngày
·       Cám ơn Quý Khách đã xem tin-CHÚC QUÝ KHÁCH MAY MẮN



GOLDEN CITY - MẶT TiỀN ĐƯỜNG 62M - GIÁ GỐC CHỦ ĐẦU TƯ

GOLDEN CITY - PHỐ VÀNG THƯƠNG MẠI
GIÁ GỐC CHỦ ĐẦU TƯ BECAMEX- 1,6 TRIỆU/M2
Vị trí:
Tọa lạc ngay trung tâm khu đô thị Mỹ Phước 3, trên đường cao tốc Mỹ Phước – Tân Vạn và Vành Đai 4 là 2 trục đường chính kết nối Tp.HCM – sân bay Long Thành và Cảng Vũng Tàu
- Đối diện khu sinh thái Ecolakes được xem như PHÚ MỸ HƯNG của BÌNH DƯƠNG
Sự kết hợp hoàn hảo của vị trí, quy hoạch, tiện ích đã tạo nên những lợi thế riêng biệt cho GOLDEN CITY, mở ra cơ hội tuyệt vời cho việc kinh doanh và tận hưởng cuộc sống. Chính những lợi thế này sẽ khiến giá trị Bất động sản nơi đây gia tăng từng ngày, và GOLDEN CITY hứa hẹn sẽ trở thanh tâm điểm trên thị trường bất động sản Bình Dương.
Tiện ích dự án:
- Cách Tp Mới Bình Dương khoảng 10 phút.

- Cách KDL Đại Nam 5 phút.
- Cách khu đô thị Ecolakes khoảng 2 phút.
- Cách trường Đại học quốc tế Miền Đông khoảng 10 phút.
- Liền kề 2 trường ĐH Quốc Tế Việt Đức và Thủ Dầu Một…
Liền kề nhiều khu Biệt thự cao cấp dành cho Doanh nhân
Dự án là sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc cổ điển và hiện đại với đầy đủ các tiện ích xung quanh : hồ bơi, công viên, khu thương mại, khu hành chính của quận Bến Cát…
Ký hợp đồng trực tiếp với chủ đầu tư Becamex UDJ.
Pháp lý rõ rang minh bạch
· Hãy đến xem, cảm nhận và quyết định.

Giá chỉ với: 175tr/nền
Công Ty Cổ Phần TMDV Và Xây Dựng Địa Ốc Kim Oanh
Đ/c: 164 xô viết nghệ tĩnh, p21, quận bình thạnh
L/h : Ms. Ngoc phi 0914.59.7772
Xe công ty đưa khách đi xem dự án mỗi ngày, kể cả chủ nhật và ngày lễ !!!

Địa đạo Tam giác sắt Tây Nam Bến Cát

(DiaocNiemtin.com) Địa đạo Tam giác sắt Tây Nam Bến Cát nằm trên vùng đất 3 xã: An Điền, An Tây, Phú An thuộc khu vực phía Tây Nam huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, cách trung tâm thị xã Thủ Dầu Một 15 km về phía nam. Với vị trí và tầm vóc trong hai cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, địa đạo ba xã Tây Nam Bến Cát được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia ngày 18/3/1996, có tổng diện tích 230.000m2.

Khu Địa đạo tiếp giáp với các nơi: Phía Đông giáp các thị trấn Mỹ Phước, Thới Hòa, Tân Định; phía Tây giáp sông Sài Gòn; phía Nam giáp xã Tân An (Thủ Dầu Một); phía Bắc giáp xã An Lập, Long Nguyên (Bến Cát), và đây cũng chính là cái nôi của vùng “Tam giác sắt”.

Tên “Tam giác sắt” đã trở nên quen thuộc với nhiều người trong trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược trước đây. Nhưng cũng không ít người chưa có dịp dù chỉ một lần đến nơi này. Ngày nay, nhiều người hiểu “Tam giác sắt” rất khác nhau. Có người cho rằng “Tam giác sắt” là vùng Tây Nam Bến Cát, cũng có người cho rằng nó bao gồm phần đất Tây Nam Bến Cát – Dầu Tiếng – Long Nguyên. Rộng hơn nữa, có người cho rằng nó kéo dài từ Long Nguyên (Bến Cát) – Trảng Bàng (Tây Ninh) và Củ Chi (thành phố Hồ Chí Minh). Tất cả đều đúng, vì địa danh “Tam giác sắt” cùng phát triển theo bước phát triển của cuộc chiến tranh. Duy chỉ có một điều ít ai nghĩ tới là nguồn gốc ban đầu của “Tam giác sắt” lại chính là địa bàn của 3 xã: An Điền, An Tây, Phú An (3 xã Tây Nam của huyện Bến Cát , tỉnh Bình Dương).

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trước đây, vùng đất 3 xã Tây Nam Bến Cát sớm được nổi danh với chiến khu An Thành. Thuở đó, An Thành đã từng là nơi dừng chân của các cơ quan đầu não kháng chiến Khu Bộ Miền Đông, Xứ ủy Nam Bộ, Đặc khu ủy Sài Gòn – Gia Định,v.v… nhờ đó mà người dân địa phương sớm được giác ngộ cách mạng và đã từng đương đầu với biết bao thử thách ác liệt nhất trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ và hy sinh của nhân dân ta.

Điều đặc biệt và lý thú là vào năm 1948, hệ thống địa đạo đầu tiên xuất hiện từ vùng đất này. Sau đó năm 1960, du kích Củ Chi đến học tập kinh nghiệm và xây dựng hệ thống địa đạo ở địa phương mình.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, kẻ thù đã nhiều lần càn đi xát lại, nhưng chúng không khuất phục nổi lòng dân ở đây. Đến khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào trực tiếp chiến đấu ở Miền Nam, năm 1967 bằng đủ loại binh hùng tướng mạnh và những phương tiện giết người hiện đại nhất, chúng mở cuộc càn Ce – da – phôn (2/1-21/1967) với quy mô lớn gồm 30.000 quân, 400 xe tăng, 80 tàu chiến, 100 đại bác và nhiều loại máy bay ném bom, kể cả máy bay B.52 hòng hủy diệt mục tiêu quan trọng này. Nhưng dựa vào hệ thống địa đạo quanh co, chằng chịt, quân và dân ta lúc ẩn, lúc hiện bí mật bất ngờ mở đợt chống càn quyết liệt. Cuối cùng giặc Mỹ phải rút lui. Với sự thất bại thảm hại, 3.200 tên Mỹ ngụy bị diệt, 149 xe tăng và xe bọc thép bị phá hủy, 28 máy bay bị bắn rơi hoặc bị thương, 2 tàu chiến bị bắn chìm, bắn cháy… Trong trận này nổi lên anh hùng bắn tỉa: Nguyễn Văn Đực, chỉ 10 viên đạn tiêu diệt 9 tên xâm lược, hoặc Võ Thị Huynh, anh hùng lực lượng vũ trang từng lăn mình dưới làm bom đạn để chăm sóc, bảo vệ thương binh.

Sau những thất bại liên tiếp, kẻ thù đành bất lực, chúng phải gọi vùng này là vùng “Tam giác sắt” (Địa đạo Tây Nam Bến Cát).

Địa đạo Tây Nam không đơn thuần mang ý nghĩa địa danh, mà nó là biểu tượng cho cách mạng, cho kháng chiến. Với phương tiện thô sơ là lưỡi cuốc và chiếc ky xúc đất bằng tre, quân và dân 3 xã Tây Nam đã tạo nên công trình đồ sộ với hàng trăm con đường hầm ngang dọc trong lòng đất, nối liền các xã với nhau như một ”Làng ngầm” kỳ diệu. Đây là một công trình độc đáo, chỉ riêng việc chuyển tải hàng vạn mét khối đất đem đi phi tang ở nơi khác để giữ bí mật địa đạo đã là chuyện vô cùng gian khổ, công phu, là biểu hiện sự đồng tâm hiệp lực của quân dân. Các gia đình ở khu vực vành đai, nhà nào cũng đào hầm, hào nối liền vào địa đạo, tạo thế liên hoàn để vừa bám trụ sản xuất vừa đánh giặc giữ làng.

Đường xương sống – đường chính của địa đạo cách mặt đất 4 mét. Trong đường hầm này có chiều cao 1,2m, rộng 0,8 mét. Có những đoạn được cấu trúc từ 2 đến 3 tầng, chỗ lên xuống có nắp đậy bí mật. Trong địa đạo có những nút chặt ở những điểm cần thiết, dọc theo đường hầm có lổ thông hơi ra ngoài được ngụy trang kín đáo. Chung quanh cửa hầm bí mật lên xuống được bố trí nhiều hầm chông, hố đinh, mìn trái, có cả mìn lớn chống tăng và mâm phóng lựu chống máy bay trực thăng đổ chụp nhằm ngăn chặn địch tới gần.

Liên hoàn với địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi sau chiến đấu; có nơi dự trữ vũ khí, lương thực thực phẩm, nước uống, có giếng nước, hầm nấu ăn, hầm làm việc, chỉ huy, hầm nuôi dưỡng thương binh, v.v…

Đường xương sườn (các nhánh phụ), được đào từ đường chính về các ấp. Đi liền với các nhánh phụ là các ô ụ chiến đấu. Mỗi nhánh phụ dài 1km với 3 ụ chiến đấu. Xung quanh ô ụ chiến đấu có bố trí các hầm chông, mìn được ngụy trang cẩn thận.

Với hệ thống địa đạo dài gần 100 km , khoảng 50 ô ụ chiến đấu và nhiều hầm để trú ẩn, cứu chữa thương binh, dự trữ vũ khí, lương thực, thực phẩm… địa đạo Tây Nam là căn cứ địa của nhiều cơ quan và tổ chức kháng chiến, đây còn là chiến trường tiêu diệt địch tại chỗ. Từ căn cứ này, nhiều lực lượng vũ trang chủ lực làm bàn đạp xuất phát tiến công vào sào huyệt kẻ thù trong những trận đánh lớn, chiến dịch lớn. Đó là chiến dịch Lê Hồng Phong (1950); Những trận phục kích đánh giao thông trên đường 14; Đánh các cuộc càn “Phong hỏa”, “Át-tăng-bơ-rơ”, “Xê-đa-phôn”…

Công tác xây dựng và củng cố địa đạo ba xã Tây Nam được tiến hành nột cách toàn diện về cả chính trị, quân sự, kinh tế. Các tổ chức Đảng, Chính quyền, mặt trận đều chăm lo mọi mặt cho cuộc sống của nhân dân nơi đây. Nhờ đó, mối quan hệ quân dân luôn đoàn kết thành một khối thống nhất.
Địa đạo ba xã Tây Nam với các hoạt động của nó, đã giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hai cuộc kháng chiến, nhất là trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Trong suốt 20 năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, địa đạo ba xã Tây Nam đã phát huy tác dụng của một địa đạo chiến. Dựa vào hệ thống địa đạo, quân dân ba xã Tây Nam đã chiến đấu chôn vùi hàng ngàn tên giặc; bắn cháy và phá hủy hàng trăm xe tăng và xe bọc thép… Đặc biệt trong chiến dịch Mậu Thân 1968, và mùa xuân năm 1975, địa đạo Tây Nam là nơi nhiều cánh quân lớn tập kết từ đây tiến đánh vào Sài Gòn, góp phần vào sự nghiệp kháng chiến thắng lợi của quân dân cả nước năm 1975.

nguồn: binhduong.gov.vn

Chợ Thủ Dầu Một


Phú Cường – tên gọi khởi nguồn của chợ Thủ Dầu Một

(DiaocNiemtin.com) Chợ Thủ Dầu Một, lúc khởi nguồn được gọi là chợ Phú Cường. Theo lịch sử địa phương, vùng đất Phú Cường đến đầu thế kỷ XVII vẫn còn là đất hoang, cảnh quan nơi đây chính là những khu rừng rậm. Trong đó, hình ảnh nổi bật là những rừng Dầu cổ thụ ở khu vực Chánh Nghĩa hiện nay, nhất là vùng ven sông lúc đó chỉ là những bãi lầy, ngập nước hình thành dần do phù sa sông Sài Gòn bù đắp. Về phía Nam của Phú Cường với những mái nhà ngói chìm trong những tán lá cây xanh. Con rạch nhỏ được phủ kín những thuyền buồm, ngôi chợ được đặt ở khúc rạch đầu tiên.

Khi Nguyễn Hữu Kính vào kinh lược đất Gia Định năm 1698. Khu vực Phú Cường ngày nay, cư dân hội tụ có phần muộn hơn so với Lái Thiêu, Thị Tính nhưng lại tập trung đông và nhanh hơn do vị trí hình thành lỵ sở của tổng Bình Điền, huyện Bình An thuộc tỉnh Biên Hòa lúc đó.

Địa danh Phú Cường xuất hiện vào khoảng năm 1838 (Đời Vua Minh Mệnh thứ XVIII) cùng với sự thay đổi nhiều tên tổng và thôn của huyện Bình An. Vì vậy, tên gọi chợ Phú Cường cũng có thể được phôi thai trong khoảng thời gian này. Chợ Phú Cường, trong lịch sử hình thành muộn hơn so với một số chợ của huyện Bình An như chợ Tân Hoa, chợ Thị Tính, chợ Bình Nhâm Thượng.

Phần “Thị Điểm” (Chợ Quán) của sách Đại Nam Nhất Thống Chí - bộ sách địa lý được biên soạn trong khoảng thời gian từ 1864 -1875, đã nói đến tên chợ Phú Cường: “Chợ Phú Cường ở thôn Phú Cường, huyện Bình An tục danh gọi là chợ Thủ Dầu Miệt (hay Dầu Một) ở bên lỵ sở huyện, xe cọ ghe thuyền tấp nập đông đảo”. Đến năn 1889, trên địa bàn huyện Bình An, tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập, chợ Phú Cường trở thành chợ tỉnh Thủ Dầu Một. Từ đó, tên chợ Thủ hoặc Thủ Dầu Một lại được nhắc nhiều đến trong dân gian và cả trong thơ ca sách báo.

“Chiều chiều mượn ngựa ông Đô

Mượn ba chú lính đưa cô tôi về

Đưa về chợ Thủ bán hủ bán ve,

Bán bộ đồ chè bán cối đâm tiêu…”

Trước khi người Pháp xâm chiếm đồn binh Thủ Dầu Một năm 1861, thì chợ Phú Cường đã là nơi buôn bán sầm uất, nhiều xe cộ, ghe thuyền quy tụ về trao đổi buôn bán hàng hóa.


Bến đò chợ cá Thủ Dầu Một năm 1950

Chợ Thủ Dầu Một - lối kiến trúc kiểu Pháp nặng về mô tuýp châu Âu

Sau khi người Pháp chiếm Nam Kỳ lục tỉnh. Trong đó, có tỉnh Biên Hòa (huyện Bình An thuộc tỉnh Biên Hòa), người Pháp đã tiến hành phục hồi và biến đổi hoàn toàn chợ Phú Cường với cổng lát đá và đắp đường cao bên trong. Theo “địa phương chí Bình Dương” viết vào năm 1888, nhà cầm quyền Pháp cho lấp con rạch Phú Cường ăn thông với sông Sài Gòn và đã hoàn thành công việc này vào năm 1890.

Đến năm 1935, người Pháp nhận thấy việc đầu tư vào chợ có lợi lớn, họ đã tiến hành phục hồi và biến đổi hoàn toàn chợ Phú Cường mô phỏng theo kiểu các ngôi chợ xưa ở Pháp có cấu trúc gần giống chợ Nam Vang (Campuchia) và chợ Bến Thành (Sài Gòn). Điểm đặc biệt của mô hình trên là họ vẫn tôn trọng, giữ nguyên vị trí cũ. Năm 1938, chợ Thủ được khánh thành với mô hình mới, kiến trúc phóng khoáng, trang nhã, vào thời đó và có lợi thế hơn nhiều nơi khác.



Chợ Thủ Dầu Một trước năm 1975

Chợ được phân thành bảy khu lớn nhỏ và được xây dựng theo kiểu hình chữ nhật gồm ba căn nhà tách biệt nhau. Từ đường Trần Hưng Đạo đi vào, ta bắt gặp căn nhà dài một lầu, một trệt nhà còn gọi là (khu Thương Xá) xây dựng và bố trí phân theo từng phân khu nhỏ dân gian vẫn thường gọi là “sạp chợ” để bày bán các mặt hàng hóa. Sau khu Thương Xá là căn nhà ngang (khu ăn uống), xây dựng giữa khu Thương Xá và khu Đồng hồ, được bài trí thành ba gian chính để phục vụ việc ăn uống. Phía sau là căn nhà dài – nhà dãy chợ (hay khu chợ Đồng Hồ) cũng được xây xựng và bài trí theo từng phân khu nhỏ kể cả ngay dưới chân Tháp Đồng Hồ chợ.

Nhà dãy chợ là căn đầu tiên thực dân Pháp xây dựng vào năm 1935, với lối kiến trúc tạo dáng hình con tàu mà đỉnh tháp là chiếc đồng hồ nặng về mô típ Châu Âu, do ông Bonnemain kiến trúc sư người Pháp thiết kế và khánh thành năm 1938. Dãy nhà xây dựng theo kiến trúc nhà dài, có diện tích 2.590m2, có hai mái chia thành hai tầng, chiều cao từ nền đến đỉnh là 10.3m. Nhà có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển của chợ Thủ.

Tháp Đồng hồ chợ được xây dựng theo kiểu hình lục giác gắn liền với nhà dãy chợ, có chiều cao 23.72m, gồm bốn lầu. Lầu trệt từ nền tới trần có chiều cao 6,5m được đổ bằng bê tông, cốt thép, có bậc thang lên xuống làm bằng sắt và được gắn ở phía trong của tháp. Ngoài lát đá và ghép gạch bông ở mặt phía Đông và Tây của tháp. Từ lầu hai trở lên tháp được đắp đường cao bên trong thành tám cột trụ ở các cạnh hình lục giác. Tháp được xây dựng theo kiểu tam cấp càng lên cao càng thu hẹp. Lên đến lầu ba tháp được đổ tấm đan bê tông và xây cao chừng một mét để làm nền cho mặt đồng hồ cũng là nơi để gắn Đồng hồ. Trên nền của mặt đồng hồ được làm bằng nền màu trắng, con số màu xanh và kim chỉ đồng hồ được sơn màu đen. Trên đồng hồ được đổ bốn tấm đan bê tông gắn phía trên đồng hồ để che nắng mưa. Trên đỉnh tháp được gắn 4 chiếc đồng hồ. Chính từ những chiếc đồng hồ được bố trí theo Đông - Tây - Nam - Bắc, đã tạo nên một dấu ấn đặc sắc, hình thành tình cảm quên thuộc, sâu sắc của người dân Bình Dương.

Hình ảnh tháp chợ Đồng hồ là nhịp sống trái tim và là biểu tượng đã trải bao lần thịnh suy trong lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất này.

Chợ Thủ Dầu Một luôn giữ vị trí là một trung tâm thương mại tiêu biểu của Bình Dương, đồng thời cũng là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng đại trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Cũng chính vì thế, chợ Bình Dương không chỉ là nơi mua bán mà còn là một biểu trưng văn hóa gắn liền với lịch sử phát triển của Bình Dương và Nam Bộ.
Nguồn: binhduong.gov.vn

Núi Cậu - Lòng Hồ Dầu Tiếng


Cảnh quan thiên nhiên Núi Cậu - Lòng hồ Dầu Tiếng


Danh thắng được kết hợp bởi sông – nước – núi – đồi

(DiaocNiemtin.com) Quần thể Núi Cậu với tổng diện tích hơn 1600 ha, gồm 21 ngọn (7 ngọn lớn và 14 ngọn nhỏ), ngọn núi có dạng hình chữ U. Ngọn núi cao nhất là Núi Cửa Ông cao 295m, Núi Ông cao 285m, Núi Tha La cao 198m và núi thấp nhất cao 63m là Núi Chúa. Bốn ngọn núi này gắn liền với nhau tạo thành một dãy núi nhấp nhô kéo dài nằm chếch về hướng Bắc – Đông Bắc và Nam - Tây Nam.

Đặc biệt, dãy núi Cậu có hình dáng như 2 yên ngựa nên người dân địa phương còn gọi là Yên ngựa 1 (Núi Cửa Ông và Núi Ông), Yên ngựa 2 là ( Núi Tha La). Vùng Núi Cậu có trữ lượng cao nên thảo mộc thiên nhiên trù phú và ở đây còn có các loại gỗ quý như: gõ, căm xe, giáng hương, bằng lăng và nhiều loại thảo mộc khác… nơi sinh sống của nhiều loài động vật như: Nai, mễn, heo rừng,….

Về hướng Nam – Tây Nam dưới chân núi, ta bắt gặp một thác nước đang ào ào tuông chảy chen qua các tản đá rồi đổ xuống một trũng nước hình tròn có độ sâu khoảng 3m, có đường kính độ mươi mét. Trũng nước lắng đọng làm chựng sức mạnh tuôn trào của dòng suối và không ngừng những âm thanh xao động rì rào… mang tên là Hồ Than Thở.

Trên đỉnh núi cũng có một ngôi miếu thờ “Cậu Bảy” và nhiều tảng đá tạo thành những hình tượng vô cùng hấp dẫn. Dưới chân núi có ngôi chùa Thái Sơn do hoà thượng Thích Đạt Phẩm (thế danh: Đinh Văn Trên) (Thầy sáu) xây dựng vào năm 1988, tổng diện tích trên 5 hecta gồm các hạng mục như: cổng Tam Quan, ngôi Đại Tháp cao 36m có 9 tầng, tượng quan Thế âm cao 12m, chánh điện, điện ngọc cũng được xây đựng theo lối kiến trúc cổ lầu, bên trong chánh điện thầy trụ trì và chư tăng phật tử thường xuyên gõ mõ tụng kinh nên khu vực này tăng thêm phần linh thiêng tín ngưỡng của du khách thập phương…



Chùa Thái Sơn dưới chân núi Cậu do hòa thương Thích Đạt Phẩm xây dựng 1988

Trong kháng chiến vùng núi hiền hòa nầy đã che chở cho hòa thượng Đạt Phẩm và các đồng chí hoạt động cánh mạng. Có lẽ đây là một phần trong nhiều nguyên nhân khác về mặt tâm linh, đã làm cho Hoà Thượng quyết tâm xây đựng chùa Thái Sơn trên mảnh đất năm xưa núi cậu.

Lòng hồ là một công trình thủy lợi với diện tích rộng trên 27000 hecta và 1,5 tỷ m3 nước phục vụ nông nghiệp. Những nhà quản lí công trình, những kỹ sư và công nhân ngành thủy lợi đã đầu tư trí tuệ, sức lực và lòng quyết tâm đạt được mục tiêu hồ có khả năng tưới tiêu cho hơn hàng trăm ngàn hecta đất ruộng và hoa màu của một vùng rộng lớn từ Tây Ninh đến Bình Dương qua Long An về thành phố Hồ Chí Minh.

Núi Cậu – Lòng Hồ Dầu Tiếng là một danh thắng được kết hợp Sông - Nước – Núi – Đồi quả thật là phong cảnh đẹp, một địa thế tiền thủy, hậu sơn đã tạo nên nét hiền hòa, êm ả của dòng nước lòng hồ trong mát, bên cạnh một bức bình phong hùng vĩ của rừng núi thiên nhiên như một vị thần che chở bảo hộ sự bình an cho mọi người .

Đặc biệt, vùng rừng Núi này còn là rừng phòng hộ – Nước lòng hồ này còn là nước tưới tiêu xả lũ cho các vùng ven sông. Núi Cậu – Lòng Hồ Dầu Tiếng là một thắng cảnh – du lịch ngoạn mục là địa điểm nổi tiếng mà nhiều khách thập phương trong và ngoài nước đã đến đây với tấm lòng ngưỡng mộ và thích thú.

Núi Cậu từng là căn cứ hoạt động cách mạng trong kháng chiến

Trèo lên Núi ở độ cao khoảng 284.6m, ta thấy cảnh trời đất xung quanh hiện ra trước mắt, xa xa là thị trấn Dầu Tiếng sầm uất, đang hối hả nhộn nhịp. Đặc biệt, từ khi tách Dầu Tiếng được tái lập, huyện đã nhanh chóng ổn định đi vào chỉnh trang đô thị cho xứng đáng tầm vóc của một huyện có bề dày lịch sử chống kẻ thù mà Hồ Chủ Tịch đã khen tặng trong thư chúc tết năm 1966 của Người :

“… Mừng miền Nam rực rỡ chiến công

Nhiều Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Plây Me, Đà Nẵng…”

Giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Núi Cậu đã trở thành căn cứ hoạt động cách mạng. Nơi đây được gọi là Định Thành căn cứ để phân biệt Định Thành tạm chiếm lúc bấy giờ.

Tháng 5 năm 1951, thực hiện chủ trương của Quân khu ủy, Phân liên khu Miền Đông, vùng cao su gồm 22 làng nhập vào huyện Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh. Huyện Ủy Dương Minh Châu chỉ định cấp ủy, chi bộ thị trấn Dầu Tiếng gồm 5 đồng chí, đồng chí Trần Văn Lắc phụ trách khu vực ấp 4 Bàu Sình lên đóng quân trên Núi Cậu.

Đến năm 1961, lúc bấy giờ du kích hoạt động gần như không có vũ khí gì trong tay chỉ có Làng 22 đầu tiên có 1 tiểu đội là có dao, mã tấu làm các công việc an ninh trật tự và cũng là làng đầu tiên được nhận 3 cây mút mát. Từ đó, đội võ trang được gọi là đội du kích, Ban cán sự, thành lập 8 đội công tác địa điểm hoạt động tại Núi Cậu, mật danh là các “C” (về sau đổi thành các B): B21, B26, B28. B đầu tiên có 1 súng là B26 đồng chí Sáu Bi mang về.

Đến năm 1967, cuộc hành quân Junction City của Mỹ kết thúc, Núi Cậu biến thành thế mạnh của chúng, chúng đã chiếm và đặt thành một chốt giao cho tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 173 đóng giữ từ mùa xuân qua tới đầu mùa hè.

Qua trận Mậu Thân 1968, bằng mọi cách nối lại liên lạc tạo dựng lại cơ sở căn cứ. Huyện ủy, huyện đội, công an hình thành một cụm căn cứ nhưng hoạt động phân tán để tránh thiệt hại cả cụm. Căn cứ ít nhất phải ba vòng trái chuyển đi dời lại từ Núi Cậu đến khu vực đầu lô 69. Rồi lại trở về Núi Cậu. Núi Cậu là địa hình, địa thế rất thuận lợi nên Cách mạng quyết tâm trấn giữ làm căn cứ tiếp sức cho phát triển phong trào, nhằm góp phần vào chiến thắng chung.

Bảo tồn danh thắng núi và lòng hồ là bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử, gìn giữ một cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái lý tưởng. Hiện nay, Núi Cậu là khu rừng phòng hộ nên chi cục kiểm lâm – Hạt kiểm Lâm Dầu Tiếng đang bảo vệ rất nghiêm ngặt. Khu vực chùa Thái Sơn có trụ trì Đạt Phẩm, cùng một số phật tử sớm tối kinh mõ cầu an cho mọi người. Riêng phong cảnh của Lòng Hồ cũng được Phòng quản lý nước của Công ty khai thác thủy lợi quản lý theo dõi nước lên, nước xuống mà có biện pháp khắc phục nhằm ổn định cho sự hiệu quả và an toàn của Hồ nước. 
nguồn: binhduong.gov.vn

Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh

(DiaocNiemtin.com) Sở dĩ gọi là di tích Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Mình là vì Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh được thành lập ở căn cứ quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại ấp Tà Thiết Krom – Lộc Thành - Lộc Ninh, Sông Bé. Sau cuộc họp ngày 25/3/1975 của Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương, theo sự phân công của Bộ chính trị, cùng ngày, đồng chí Lê Đức Thọ vào Lộc Ninh để cùng các đồng chí Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng thay mặt Bộ chính trị trực tiếp chỉ đạo chiến dịch giải phóng Sài Gòn.



Khi chiến dịch sắp mở màn, để trực tiếp chỉ huy chiến dịch ngay từ đầu sát với tình hình tác chiến cơ quan, Sở chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh đã được Bộ Chính trị mà trực tiếp là đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Văn Tiến Dũng quyết định chuyển tới căn cứ tiền phương sát với chiến trường hơn và chọn Căm Xe làm Sở chỉ huy Căm Xe, hay còn gọi là sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chì Minh.

Với vị trí đã được xác định chuyển dời này, di tích Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh là một trong những địa điểm quan trọng quyết định sự chỉ đạo đúng đắn và sáng suốt, trực tiếp, nhanh nhẹn nhằm tạo thuận lợi cho thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử của Bộ chính trị giao cho giải phóng Sài Gòn - Gia Định, giải phóng Miền Nam trước mùa mưa, kết thúc thắng lợi 30 năm đấu tranh cách mạng và khởi nghĩa vũ trang của nhân dân ta một cách trọn vẹn với thời gian nhanh nhất.

Đặc điểm


Di tích nằm trong khu vực rừng cây, có rất nhiều suối nhỏ và ngắn đổ vào con suối lớn Căm Xe như suối Các Liễu, suối Ong Lô, suối Biên Lộc, suối Bà Già, suối Bà Thành….(Căm Xe theo lịch sử địa phương là một vùng đất lâu đời, có một khu rừng nguyên sinh với nhiều loại cây gỗ quý, bên cạnh có dòng suối. Chính dòng suối này, với những đặc điểm lợi hại mang tính chất “thượng võ” của nó đã tạo nhiều thuận lợi để quân và dân ta đánh đuổi kẻ thù trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ).

Với tổng diện tích là 6182.96m2 ở vị trí tọa độ 11023’32” độ vĩ Bắc, 106030’40” độ kinh đông. Đây là khu rừng tái sinh, rừng cây cũ đã bị chặt phá, rừng tái sinh cũng bị đốt nhiều lần. Vì di tích là một cơ quan tạm thời nên các lán trại, hầm hào tại đây chủ yếu được làm bằng vật liệu là gỗ có sẵn, sau thời gian dài mưa nắng phá hủy chỉ còn lại những vết tích khá mờ nhạt, chỉ có hố bom nơi đồng chí Văn Tiến Dũng lấy nước để sinh hoạt là còn khá nguyên vẹn. Theo người dân sinh sống nơi đây thì cứ đến tháng 3 thì đốt để trồng sắn. Hiện nay thì cảnh quan khu vực này đã thay đổi rất nhiều so với trước, rừng cao su bạt ngàn bao quanh khu vực di tích. Những dấu vết còn lại như: hố bom lấy nước sinh họat, dấu vết các hầm hào cũng đã mờ, cỏ cây mọc khá nhiều, phải rất khó khăn mới tìm được những dấu vết cũ do cỏ cây che khuất.
Năm 1987 đại tướng Văn Tiến Dũng cùng một số đồng chí cán bộ miền về thăm và xác định vị trí trên cơ sở những dấu tích còn lại. Sau đó huyện đội Bình Long và nhân dân xã Minh Thạnh đã xây dựng bia làm mốc đánh dấu tại nơi đây. Bia được làm bằng chất liệu bê tông cốt thét, có độ cao 3m, rộng 2,5m, trên bia có gắn ngôi sao, dưới ngôi sao có ghi dòng chữ Sở chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh, 30 tháng 04 năm 1975, xã Minh Thạnh. Đến ngày 20/8/1990, Bảo Tàng Quân Khu 7 xây dựng bia khác cách tấm bia cũ khoảng 3m, có chiều cao 15m, chiều ngang 1,5m, bia cũng được làm bằng chất liệu bê tông cốt thép. Đến năm 2005 được trùng tu lại bằng đá hoa cương cho đến nay.

Nguồn: binhduong.gov.vn

Chiến khu Đ - Bình Dương

Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa tên gọi

(DiaocNiemtin.com) Danh từ “Chiến Khu Đ” chỉ vùng căn ra đời vào cuối tháng 2/1946. Khi thực dân Pháp chiếm đóng được quận lỵ Tân Uyên, thành lập chi khu. Tổng hành dinh Khu 7 và lực lượng vũ trang Biên Hòa, Thủ Dầu Một rút sâu vào rừng. Công tác xây dựng căn cứ được đặt ra một cách cấp thiết tại Hội nghị bất thường của khu bộ khu 7 ở Lạc An. Được hội nghị chấp thuận, việc xây dựng căn cứ được triển khai có hệ thống, các cơ quan, đơn vị, công xưởng… phân chia đóng từng khu vực. Mỗi khu vực đều có nhiều phương án di chuyển địa điểm tránh sự đột kích của quân Pháp và mang mật danh A, B, C, D (A là căn cứ giao thông liên lạc đóng ở Giáp Lạc, B là căn cứ hậu cần đóng ở Thường Lang, C là khu bộ đội thường trực đóng ở Ông Đội, D là khu Tổng hành dinh khu 7 đóng ở hố Ngãi Hoang).





Từ đấy, chiến khu Đ trở thành căn cứ địa của chiến khu 7 – một tổ chức hành chính – quân sự của các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn, Bà Rịa và thành phố Sài Gòn, do Trung tướng Nguyễn Bình được chỉ định làm Khu trưởng và Trần Xuân Độ làm chính trị ủy viên khu. Ban đầu, Đ là mật danh chỉ tổng hành dinh của khu 7 nằm trong hệ thống các vị trí căn cứ của khu. Dần dần về sau, mật danh Đ được dùng để chỉ luôn cả vùng chiến khu rộng lớn ngày càng phát triển ở miền Đông Nam Bộ.


Tuy nhiên có nhiều người cho rằng chữ Đ ở đây mang ý nghĩa là “đỏ”, hàm ý là vùng chiến khu cách mạng kiên cường, tập trung những cơ quan đầu não kháng chiến quan trọng, một “địa chỉ đỏ” của cả nước. Hoặc chữ Đ là viết tắt địa danh Đất Cuốc, nơi bộ đội Huỳnh Văn Nghệ khởi cứ đầu tiên, tập hợp lực lượng. Hoặc chữ Đ là viết tắt chiến khu Đồng Nai, chiến khu miền Đông, chiến khu Đầu tiên…

Phạm vi

Thời kỳ chín năm chống Pháp, Chiến Khu Đ được hình thành khởi đầu vào tháng 2/1946, chủ yếu từ hạt nhân 5 xã: Tân Hòa, Mỹ Lộc, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An thuộc quận Tân Uyên tỉnh Biên Hòa – Nay thuộc tỉnh Bình Dương. Từ năm 1948, trở đi, Chiến Khu Đ được mở rộng ra, phát triển mãi lên phía Bắc và Đông Bắc. Dù vậy, phạm vi chủ yếu của nó nằm trên vùng đất: Tây giáp đường 16 đoạn từ thị trấn Tân Uyên lên Cổng xanh; bắc giáp Sông Bé đoạn từ cầu Phước Hòa lên Chánh Hưng, đông vẫn giáp Sông Bé đoạn từ Chánh Hưng đến ngã ba Hiếu Liêm và nam giáp sông Đồng Nai đoạn từ ngã ba Hiếu Liêm về thị trấn Tân Uyên..



Sang thời kỳ chống Mỹ, do đặc điểm về quy mô của cuộc chiến tranh, từ phạm vi chiến khu cũ (chủ yếu nằm trên địa bàn Tân Uyên), trung tâm căn cứ chuyển dần lên phía đông bắc. Đến đầu năm 1975, căn cứ được xây dựng hoàn chỉnh, phạm vi phát triển đến mức cao nhất. Toàn bộ căn cứ địa nằm ở phía bắc sông Đồng Nai, phía tây giáp địa giới hai tỉnh Bình Long và Phước Long cũ, phía bắc giáp biên giới Việt Nam – Căm-Pu-Chia và phía đông giáp địa giới ba tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Đắc Lắc hiện nay kéo về rừng Cát Tiên phía thượng nguồn sông Đồng Nai bên hữu ngạn.

Đặc điểm, vai trò

Nằm trong hệ thống rừng núi phía bắc miền Đông Nam Bộ, địa hình hiểm trở, Chiến Khu Đ là một khu vực lý tưởng cho việc xây dựng căn cứ, nơi cất giấu lực lượng, cất giữ kho tàng và phát triển mọi mặt của một căn cứ địa kháng chiến. Lưng dựa vào Trường Sơn và vùng rừng núi miền nam Đông Dương, dính với một phần đoạn cuối đường Hồ Chí Minh, phía trước lấn sát vùng đồng bằng đông dân cư và các khu đô thị lớn, chiến Khu Đ còn là một vị trí án ngữ chiến lược, nối nhiều chiến trường với nhau, là một trong những địa điểm liên lạc, tiếp nối, trung chuyển quan trọng từ hậu phương miền Bắc vào miền Nam. Hơn nữa, với ưu thế tiếp cận các đường giao thông chiến lược, các đô thị lớn và trung tâm sào huyệt địch - thành phố Sài Gòn, Chiến khu Đ có ưu thế là một bàn đạp quân sự tiến công vào mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế của địch ở Sài Gòn và các tỉnh miền Đông Nam Bộ.

Chiến khu Đ được coi là trung tâm kháng chiến, là nơi ra đời và phát triển của các lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ như tiểu đoàn 800, trung đoàn 762, sư đoàn 9, sư đoàn 5… Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975, là nơi tập kết của lực lượng quân đoàn 1, quân đoàn 4 trước khi tiến về giải phóng Sài Gòn. Tên Chiến khu Đ gắn liền với những chiến thắng vang dội trong lịch sử chống ngoại xâm của quân và dân Miền Đông Nam Bộ (thắng Lạc An, Tân Uyên, chiến thắng Phước Thành, Đất Cuốc, Đồng Xoài, Phước Long…). Sự tồn tại và phát triển của nó đã góp phần vào thắng lợi chung của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Về phương diện chính trị, tinh thần, Chiến khu Đ tồn tại như một biểu tượng của cuộc kháng chiến, tiêu biểu cho ý chí, sức mạnh tinh thần của toàn dân, là nguồn hy vọng, là niềm tin của toàn thể cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn miền Đông Nam Bộ.

Giờ đây, Chiến khu Đ xưa là một vùng đất sôi động của những cánh đồng lúa ven sông, những nông trường cao su trải rộng, những lâm trường bạt ngàn, những nhà máy và công trình thủy điện. Hàng vạn đồng bào từ khắp mọi miền của đất nước đã về đây xây dựng những trung tâm kinh tế mới. Dấu tích của một căn cứ kháng chiến tồn tại trong gần một phần ba thế kỷ đang dần mờ nhạt trước những chuyển đổi lớn lao của cuộc sống mới. Tuy nhiên, chiến khu Đ với nội dung lịch sử và những bài học kinh nghiệm của nó thì không hề mất đi mà còn lại mãi mãi.

Khu tưởng niệm chiến khu Đ với diện tích hơn 30ha sẽ được xây dựng trên mảnh đất Tân Uyên anh hùng, sẽ ghi lại những chiến công vang dội của Chiến khu Đ oai hùng năm xưa. 
nguồn: binhduong.gov.vn

Nhà cổ Trần Công Vàng - Bình Dương




Toàn cảnh ngôi nhà của bác sĩ nha khoa Trần Công vàng


(DiaocNiemtin.com) Nhà quay mặt về hướng Nam, lưng dựa vào ngọn đồi (nơi có trụ sở Ủy ban nhân dân Tỉnh bây giờ), đây cũng là cái thế đắc địa, nói theo các nhà phong thủy xưa. Xét về mặt vị trí địa lý của ngôi nhà cụ Vàng cũng như hai ngôi nhà cổ nữa của cánh họ Trần ở phường Phú Cường đều nằm gần con sông Sài Gòn, rất thuận tiện cho việc chuyên chở cây gỗ từ rừng về. Được biết, nội tổ của cụ Vàng đã từng làm nghề rừng, có trại cưa, xẻ gỗ.

Kiến trúc và nghệ thuật trang trí

Công trình xây dựng theo kiến trúc kiểu chữ đinh nghịch, tức là phần nhà ngang nằm bên trái nhà trên, thay vì nằm bên phải. Đây là nhà chữ đinh có cải tiến, có bộ phận sân con ngăn cách nhà trên và dưới, liên lạc giữa hai bộ phận bằng một nhà cầu nhỏ cắt đôi sân con làm hai phần cửa của nhà dưới trổ ra nơi đầu sân con ấy mà không trổ ra ở đầu hồi, cái cửa này cũng được kiến trúc một cách đặc biệt, mới nhìn giống như một số cổng đền người Hoa, nhưng chủ nhân lại bảo phóng theo kiểu đền của Ấn Độ.

Cũng như nhiều nhà khác, nhà cụ Vàng có bộ khung sườn làm theo kiểu nhà xuyên trính, nhưng có đến 8 đấm, 8 quyết ở hai chái nhà. Bộ trính, trổng, cối đều được đẻo gọt khéo léo, trính uốn xong có tạo gờ, các đoạn kèo được chạm tỉ mỉ, công phu, hàng lá dung thẳng tắp ở hàng cột thứ ba. Toàn phần nhà trên đếm được 48 cây cột tròn, tất cả đều đứng xa vách.



Gian tiếp khách

Phần trang trí bên trong ngôi nhà là phần làm cho du khách thích thú nhất, đó là sự chạm khắc công phu, từ chân cột đến mái nhà, bàn ghế tủ ghế, trang thờ các khung cửa các ô lồng… hoành phi, liễn, đối, những bức tranh tứ bình, những tấm thủ quyển… tất cả đều chạm trổ, sơn thếp cẩn xà cừ công phu khéo léo, làm cho ngôi nhà tráng lệ mà trang nghiêm. Nhìn chung, những mô típ chạm khắc ở đây thường mang tính ước lệ, tượng trưng, trong đó thể hiện ước muốn một cuộc sống bình yên, hạnh phúc, và một nết sống nhân nghĩa, đạo đức… Những đường nét chú trọng sự uyển chuyển, mềm mại.

Các hình ảnh chạm khắc gồm cây cỏ, hoa lá, chim thú, vật dụng, những đường hình học. Riêng tấm thủ quyển treo ở bàn thờ bên phải từ trong nhìn ra chạm hình Tùng Lộc, Mã Dương có kèm theo hai câu thơ chữ Hán tạo được cái vẻ thanh thoát, nhã đạm, tiêu sái.

Phân bố mặt bằng của ngôi nhà,Trước hết là nhà trên, nhà có 5 gian hai chái, phần thờ phụng, tiếp khách, các buồng để ở và chứa đồ đạc của cải được ngăn chia rạch ròi. Phần thờ phụng chiếm ba gian dựa theo nguyên tắc gian bên trái thờ cha mẹ của chủ nhà, bên phải thờ ông bà, bàn thờ giữa thờ ông bà cao hơn gọi chung là gia tiên. Mỗi bàn thờ gồm tủ thờ cẩn xà cừ, bên trên là đồ ngũ sự, bên trong là bài vị hoặc chân dung người quá cố, sát vách lụa là bức thờ, trên có bài châm, câu đối, đầu bức thờ có phần Mi chạm “Lưỡng long tranh châu” và tấm thủ quyển. Hai gian hai bên là phòng ngủ của vợ chồng chủ nhân, phía sau vách thờ là dãy buồng chứa đựng đồ đạc... Trên các bàn thờ là những trang thờ có đặt các bài vị, đề quan thánh đế quân, thổ công, đông trù, tư mệnh, phước đức thánh thần, tài thần.



Bàn tròn lớn tiếp khách ở gian giữa

Phần dành để tiếp khách gồm hai lòng căn (tức từ hàng cột thứ hai đến hàng cột thứ tư), nơi đây có đặt bàn ghế để tiếp khách, bao gồm ở gian giữa làm một bàn tròn lớn, mặt bàn lót đá cẩm thạch, trên bàn đặt giá Bát bửu (tám món binh khí cổ), chung quanh bàn có đặt ghế với chạm trổ tinh vi và giàu ý nghĩa tượng trưng. Hai bên bàn tròn ấy là những bàn hình chữ nhật đóng theo kiểu ghế chân nghi. Ở gian đầu là hai bàn hình hộp xoài, chung quanh đặt ghế kiểu hiện đại, tất cả các bàn ghế đều bằng gỗ. Dọc theo vách ngăn giữa phần tiếp khách và phần thờ có đặt những bàn nhỏ hình vuông bên trên có những đĩa trái cây bằng sứ, cũng nơi đây chủ nhân cho đặt một tấm Phả đồ nêu khái quát thế thứ của những người trong họ. Ở hai đầu chái nhà cũng có đặt bàn, bên trái trên bàn thờ để ảnh chủ nhân, có cặp đôi hai bên, bộ tranh tứ bình cở nhỏ, cặp câu đối và tranh tứ bình. Đặc biệt, trước của buồng ngủ đặt một cái tủ kiếng, bên trong chứa nhiều món quý như tiền cổ, nón quai thao, đồ cho cô dâu khi về nhà chồng, theo kiểu xưa…

Đặc điểm ngôi nhà là có một hành lang nội chạy quanh phần thờ tự, giữa hai vách ngăn, hành lang này giúp việc liên thông giữa nhà khách và các buồng ngủ, không phải đi ngang qua phần thờ phụng.

Nhà dưới là một căn nhà ngang, cất theo lối xuyên trính nhưng đơn giản hơn nhà trên. Nhà ngang dùng để tiếp khách bình thường, là nơi sinh hoạt gia đình, nhà ăn, nhà bếp,… phía trước nhà ngang là nhà xe hướng cửa ra cổng. Sân trước trồng nhiều chậu hoa kiểng, cây kiểng… tôn thêm nét đẹp cổ kính của ngôi nhà.

Văn hóa chữ Hán thể hiện quan niệm sống của người xưa

Phần văn hoá chữ Hán trong ngôi nhà đóng vai trang trí và đồng thời nói lên quan niệm sống của người xưa, đó là các cặp liễn đối chữ Hán. Nhà cụ Vàng có đến trên 13 cặp đối và các bài vãn, tiêu biểu:

Vào đến cổng chúng ta đọc cặp đối mà nội dung như xin khách cứ tự nhiên:


Chánh tâm vi tiên, xuất như thị nhập như thị
Trung lập bất ỷ, ngôn ư tư hành ư tư.
Tạm dịch:
Trước hết nên chánh tâm, vào như vậy, ra cũng như vậy.
Luôn giữ ở mức trung, không cậy dựa, nói như thế làm như thế.
Cặp đối ở đầu hồi bên trái nói lên cách sống luôn xét nghĩ đến mình:


Xử thế vật kiêu nhân
Tu thân nghi thiết kỷ.
Tạm dịch:
Trong giao tiếp chớ ngạo nghễ với người.
Trong tu thân phải nghiêm túc với mình.
Ở đầu hồi bên phải với cặp đối đề cao chữ hiếu và sự học:


Hiếu để truyền gia viễn
Thi thư kế thế trường.
Tạm dịch:
Hiếu để truyền mãi trong nhà.
Thi thư đời đời nối nghiệp.
Ơ hàng cột thứ nhì với hàng chữ viết thảo nhằm khuyên nên kế thừa lời dạy và quy tắc sống tốt đẹp của người xưa:


Độc tiên nhân thư lưu ngôn thiên kinh địa vĩ
Vi hậu đại pháp di an tổ đức tông công.
Tạm dịch:
Đọc sách người đời xưa, đó đạo lý môn đời truyền lại.
Vì đời sau mà làm khuôn phép, đó là ân đức của tổ tiên.
Ơ nhà cụ Vàng có chép ở bàn thờ hai bài vãn hay hai bài châm, có một bài:


Hữu kỳ phụ mẫu hữu thử thân danh phi ngôn hữu.
Thiên địa uỷ hình, ấu thừa nghiêm giáo, trưởng đắc thân vinh.
Cù lao chí đức, cúc dục chi tình, hải sơn tư báo, túc dạ bất ninh.
Mộc dục tĩnh hề, nhi phong bất đình.
Tử dục dưỡng hề, nhi thân bất sinh.
Chường thường trở đậu quí hồ kì tinh.
Thần vô thường hưởng, hưởng vu khắc thành.
Tuế tại Nhâm Thìn lan kiết kiến tạo.
Tạm dịch:
Có cha mẹ nên có thân ta, danh thân của ta không phải tự có.
Trời đất phú hình hài, lúc nhỏ được dạy dỗ, lớn lên được hiển vinh dức cù lao, tình cúc dục, lo báo đáp công ơn trời biển, đêm ngủ chẳng yên.
Cây muốn lặng mà gió không ngừng, con muốn đáp đền mà cha mẹ không còn sống.
Lễ vật hiến dâng quí ở sự tinh khiết.
Thần không thọ hưởng theo lối bình thường, hiến cúng chủ yếu là ở tấm lòng thành. Nhà cụ Vàng vừa mang tính nghệ thuật – nhân văn đậm nét văn hóa truyền thống Việt Nam; đồng thời, khẳng định kỹ thuật điêu khắc, chạm trổ đã có truyền thống lâu đời ở Bình Dương. Các hiện vật trang trí và đồ dùng trong nhà còn nhiều và hầu hết là cổ vật. Toàn bộ kiến trúc ngôi nhà và hiện vật bên trong, cho ta thấy được nét sinh hoạt của gia đình thuộc tầng lớp giàu có ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thể hiện sự phát triển về đời sống của cư dân người Việt trên đất Bình Dương.

nguồn: binhduong.gov.vn

Chùa Hội Khánh - Bình Dương



(DiaocNiemtin.com) Chùa xây dựng từ thế kỷ XVIII (1741), 1861 chùa đã bị giặc Pháp thiêu hủy. Đến năm 1868, chùa được xây dựng lại ở vị trí hiện nay với diện tích xây dựng 1.211m2. Năm 2007 chùa xây dựng thêm ngôi tháp 7 tầng cao 27 mét và tái tạo lại Phật tích “Tứ động tâm”, gồm có: Vườn Lâm Tì Ni (nơi Phật ra đời), Bồ Đề Đại Tràng (nơi Phật hành đạo), Vườn Lộc Uyển (nơi Phật thuyết đầu tiên), Ta La Song Thọ (đức Phật nhập niết bàn) có ý nghĩa sâu sắc về đạo pháp.

Năm 2008, Phật đài quy mô lớn, cao 22m được xây dựng ở khu đất phía trước chùa. Tầng trệt là dãy nhà chiều dài 64m, chiều ngang 23m dùng làm Trường Phật học, Thư viện … Tầng trên tôn trí đại tượng đức Bổn sư Thích Ca nhập Niết bàn cao 12m, dài 52m. Đây là một công trình mỹ thuật đáng tự hào của Phật giáo Bình Dương, được khánh thành trọng thể vào ngày Rằm tháng Hai năm Canh Dần (30-3-2010) mừng 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Công trình kiến trúc tôn giáo, nghệ thuật lâu đời
Tuy đã được sửa chữa, trùng tu nhiều lần nhưng về cơ bản đây là ngôi chùa hiếm hoi vẫn còn giữ được phần lớn kiến trúc ban đầu. Nét nỗi bật của ngôi cổ tự này là giá trị phong phú về mặt lịch sử văn hoá, nghệ thuật kiến trúc, đặc biệt phần lớn những di tích, cổ vật hàng mấy trăm năm được bảo tồn lưu giữ cho đến nay. Hội Khánh còn được xem là ngôi chùa tiêu biểu cho đặc điểm chung của các ngôi chùa cổ Bình Dương



chùa Hội Khánh





Về cấu trúc chùa gồm bốn phần chính: Tiền điện – chánh điện; giảng đường kiến trúc này có 92 cột gỗ quý; Đông lang và Tây lang chùa bố trí theo kiểu “sắp đôi” nối liền nhau với kiến trúc “trùng thềm, trùng lương”. Đây là biến tấu đặc biệt trong kiến trúc theo truyền thống chùa cổ xứ Nam Kỳ. Chánh điện với kèo cột, vách gỗ và ba bộ cửa bức màn, còn có gần 100 tượng gỗ, các vị La Hán và thập điện Minh Vương dáng vẻ khác nhau được tạo bằng gỗ mít sơn son thép vàng. Đặc biệt có hai bức phù điêu chạm hình 18 vị La Hán và các vị bồ tát, tạo nên một công trình điêu khắc tuyệt mỹ, có giá trị nghệ thuật cao mang đặc trưng của phong cách điêu khắc gỗ Bình Dương xưa. Đây là công trình mang dấu ấn những bàn tay tài nghệ độc đáo của lớp thợ xứ Thủ (TDM) ở cuối TK XIX (trong đó phải kể đến các thợ như thợ phèn, đường, Trương Văn Cang, Nguyện Văn Ba, Nguyễn Văn Xù, Sáu Nhồng, Chính Trí…)

Về phần liễn đối, thơ văn còn lưu giữ phong phú, giá trị khó có ngôi chùa nào sánh kịp. Nơi chánh điện có những câu liễn đối tiêu biểu cho đạo vị thiền học được nhiều người nhắc đến:


“Nhược thực nhược hư trúc ảnh tảo giai trần bất động
thị không thị sắc nguyệt xuyên hải để thuỷ vô ngân”
(Như thực như hư, bóng trúc quét thềm, bụi trần chẳng động.
Là không là sắc, ánh trăng xoáy biển, nước biển không nhồi)
Ngoài ra, nhiều người cũng nhắc đến câu đối của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc còn lưu ở chùa Hội Khánh, với ý nghĩa ngôn từ hàm súc của thiền học: “Đại đạo quảng khai thố giác khuê đàm để nguyệt. Thiền môn giáo dưỡng, qui mao thằn thụ đầu phong” (Tạm dịch: mở rộng đạo lớn như sừng thỏ như mò trăng đáy nước. Nuôi dưỡng mái chùa như lông rùa như cột gió đầu cây).

Về phần nghệ thuật trang trí nội thất, tranh tượng tự khí thờ phượng được điêu khắc, chạm trổ rất công phu, sắc sảo… đặc biệt phải kể đến bộ bao lam “thập bát La Hán” (tạo tác 1921), bức phù điêu “tứ thời” ốp vào hai cột trước chánh điện; các bàn thờ chạm trổ tinh vi hoàn thành vào năm Ất Sửu (1925). Nhà chùa còn giữ được bộ mộc bản in kinh cách đây trên 120 năm

Đại hồng chung của chùa được đúc vào năm Quí Mùi (1883) do Bổn đạo Dương Văn Lúa hiến cúng. Điều đó cho thấy đạo phật đã phát triển khá sớm và khá vững mạnh tại địa phương này.




Phật đài mới xây và Tượng đức Phật Thích Ca nhập Niết bàn lớn nhất Việt Nam




Sự gắn bó giữa đao Pháp và dân tộc
Từ khi thành lập đến nay chùa đã trải qua 10 vị trụ trì (9 vị đã viên tịch) trong đó không ít vị cao tăng, đạo đức tài năng nổi danh cả Nam Bộ.

Trong những năm 1923 -1926, chùa Hội Khánh Thủ Dầu Một còn là nơi ẩn náu qui tụ các nhân sĩ: nhà nho, nhà sư yêu nước cùng lập ra “Hội danh dự” với sự tham gia của chính hoà thượng Từ Văn, Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (Thân phụ của bác Hồ), cụ Tú Cúc… mục đích của Hội là cổ vũ cho lối sống đề cao đạo đức, coi trọng danh dự và lòng yêu quý đồng bào đất nước. Dù Hội chỉ hoạt động trong một thời gian ngắn nhưng đã gây dược ảnh hưởng đáng kể.
Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, chùa Hội Khánh là trụ sở Hội Phật giáo cứu quốc tỉnh Thủ Dầu Một, đã góp nhiều công sức tâm huyết kể cả xương máu của các nhà tu, Phật tử nhà chùa. Trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân địa phương từ 1953, chùa là trụ sở Phật giáo yêu nước tỉnh Bình Dương và đến 1983 chùa Hội Khánh là trụ sở của tỉnh Hội Phật giáo Bình Dương. Năm 1995, nơi đây Tỉnh hội xây dựng Trường cơ bản Phật học tỉnh Sông Bé (Bình Dương). Hiện thượng tọa Thích Huệ Thông trụ trì chùa Hội Khánh (từ 1988) và là phó ban thường trực tỉnh Hội Pháp giáo Bình Dương.

nguồn: binhduong.gov.vn

Núi Châu Thới

(DiaocNiemtin.com) Di tích danh thắng núi Châu Thới cao 82m (so với mặt nước biển), chiếm diện tích 25ha nằm ở vùng đồng bằng gần khu dân cư của các tỉnh thành: Bình Dương, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh. Vị trí danh thắng này rất thuận tiện cho việc tham quan, du lịch, vì gần các thắng cảnh, khu vui chơi nghỉ mát khác như chùa Tam Bảo, suối Lồ Ồ, núi Bửu Long (Biên Hoà).





Sách “Gia Định Thành Thông Chí " đã viết: “Núi Chiêu Thới (Châu Thới) từng núi cao xanh, cây cối lâu đời rậm tốt, làm tấm bình phong triều về Trấn thành. Ở hang núi có hang hố và khe nước, dân núi ở quanh theo, trên có chùa Hội Sơn là chỗ thiền sư Khánh Long sáng tạo để tu hành, ngó xuống đại giang, du khách leo lên thưởng ngoạn có cảm tưởng tiêu dao ra ngoài cửa tục”.

Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” cũng miêu tả khá rõ núi và chùa Châu Thới gần giống như trên: “Núi Chiêu Thới tục gọi là núi Châu Thới, ở phía Nam huyện Phước Chính 21 dặm, từng núi cao tít làm bình phong cho tỉnh thành. Khoảng giữa núi Chiêu Thới có am Vân Tĩnh là nơi ni cô Lượng tĩnh tu, di chỉ nay vẫn còn. Đột khởi một gò cao bằng phẳng rộng rãi, ở bên có hang hố và nước khe chảy quanh, nhà của nhân dân ở quanh theo. Trên có chùa Hội Sơn là chỗ thiền sư Khánh Long trác tích tu hành. Năm Bính Thân, đạo Hoà Nghĩa là Lý Tài chiếm cứ Châu Thới tức là chỗ này. Năm Tự Đức thứ 3 (1850) đem núi này liệt vào tự điển”.

Chùa núi Châu Thới
Về nguồn gốc, có căn cứ cho rằng chùa được xây vào khoảng năm 1612, do thiền sư Khánh Long, trên bước đường vân du hoằng pháp lên đồi Châu Thới thấy cảnh hữu tình, Sư cất một thảo am nhỏ để tu tịnh, thảo am được gọi là chùa Hội Sơn, sau đổi tên thành chùa núi Châu Thới”. Nhưng cũng có cứ liệu cho thấy chùa núi Châu Thới lập vào năm 1681 là thời điểm hợp lý hơn cả. Nhưng cho dù được thành lập vào năm 1681, chùa núi Châu Thới ở huyện Dĩ An hiện nay vẫn là ngôi chùa xưa nhất Bình Dương và được hình thành sớm vào hàng đầu ở Nam Bộ.

Cổng chùa bằng đá dưới chân núi có đề tên Chùa bằng chữ Hán “Châu Thới Sơn Tự”. Du khách bước lên 220 bậc thềm sẽ đến cổng tam quan có ba mái cong và bánh xe pháp luân nằm ở giữa đỉnh, hai bên cửa có mấy chữ “Từ bi – hỉ xả…”





Cổng chùa núi Châu Thới


Trải qua hơn ba trăm năm lịch sử đầy biến động, chịu bao hủy hoại tàn phá của thời gian và chiến tranh, chùa núi Châu Thới nay không còn giữ được dấu tích, di vật nguyên thủy của một chùa cổ được hình thành vào hàng sớm nhất Nam Bộ. Hiện Chùa là một quần thể kiến trúc đa dạng được xây dựng vào nhiều thời điểm khác nhau: gồm ngôi chánh điện, các điện thờ Thiên Thủ Thiên Nhãn, Linh Sơn Thánh Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu, Ngũ Hành Nương Nương và cả điện thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế. Ở đây còn cho thấy rõ nét sự dung hợp giữa tín ngưỡng Phật giáo và tín ngưỡng dân gian như phần đông các ngôi chùa Phật giáo ở nước ta.

Nét nổi bật về trang trí kiến trúc của Chùa là dùng nhiều mảnh gốm sứ màu sắc gắn kết đắp thành hình con rồng dài hơn cả mét đặt ở đầu đao của mái chùa và có đến 9 hình rồng như thế hướng về nhiều phía.

Chánh điện được thiết kế: dành phần trên thờ Phật A Di Đà, Quan Âm, Thế Chí; tầng kế thờ Phật Thích Ca; tầng dưới là nơi thờ Phật giáng sinh. Toàn bộ những tượng đồng được đúc tại Chùa, do nhóm thợ chuyên môn của xứ Huế thực hiện. Chùa còn thờ bộ thập bát La Hán và thập điện Diêm Vương bằng đất nung. Đây là hai bộ tượng khá xưa và độc đáo của Chùa còn lưu giữ được, cho thấy nghề gốm ở địa phương đã phát triển khá sớm. Chùa cũng còn lưu giữ được ba pho tượng Phật tạc bằng đá khá xưa (có thể vào cuối thế kỷ XVII) và một tượng Quan Âm bằng gỗ được làm bằng cây mít cổ thụ hàng trăm tuổi được trồng trong vườn chùa.



Tượng Phật A Di Đà


Vào năm 1988, Chùa đúc một đại hồng chung theo mẫu của chùa Thiên Mụ (Huế) nặng 1,5 tấn, cao 2 mét, đường kính 1m2, đặt trên chiếc giá chuông bằng gỗ lim do nghệ nhân Bình Dương chạm trổ các hoa văn đẹp. Những năm 1996 – 1998, Chùa tổ chức đúc thêm bảy tượng Phật bằng đồng, xây dựng một bảo tháp gồm nhiều tầng lầu cao 24 mét. Năm 2002, bên phải ngôi chùa xây dựng công trình gồm một trệt một lầu và bên trên sân thượng có xây bảo tháp thờ tượng Quan Âm bằng đồng cao 3 mét, nặng 3 tấn.
Đến nay, Chùa không còn lưu giữ được đầy đủ những long vị và Tháp của các vị thiền sư khai sơn mà chỉ thờ các tổ bằng tượng gỗ chạm và một số long vị của các hoà thượng đời sau này. Về số cổ vật có giá trị đã được xếp loại tại chùa núi Châu Thới hiện nay còn lưu giữ được 55 hiện vật (đứng nhì trong các ngôi chùa trong tỉnh).

nguồn: binhduong.gov.vn

Nhà hàng Nón Lá - Nơi hội tụ đặc sắc của văn hóa ẩm thực

(DiaocNiemtin.com) Đi dọc theo đường Hoàng Văn Thụ, Khu đô thị Chánh Nghĩa, phường Chánh Nghĩa, TX.TDM (Bình Dương), nhà hàng Nón Lá là một địa chỉ mới nhưng rất hấp dẫn và quyến rũ du khách bởi những món ăn ngon và không gian, kiến trúc rất riêng của mình.

Nhà hàng Nón Lá


Với phong cách phục vụ tận tình của đội ngũ tiếp viên chuyên nghiệp, trong một bố cục không gian hợp lý và một tổng thể nội thất, kiến trúc được xử lý thiết kế đẹp mắt, vừa hiện đại vừa mang đậm chất quê hương, khi đến nơi đây du khách sẽ cảm thấy thoải mái và hài lòng. Toàn bộ kiến trúc của nhà hàng là một tác phẩm nghệ thuật được xây dựng khá lạ mắt được kết hợp giữa lối trang trí mộc mạc, dân dã như lúa, lu, khạp, xuồng bông…với điểm nhấn chính là những chiếc nón lá nhỏ xinh, kết hợp cùng những sản phẩm gốm sứ đặc sắc mang đậm nét văn hóa của quê hương, đã tạo nên một không gian rất riêng, rất “Nón Lá” mà không phải nơi nào cũng có được. Cùng việc được điểm xuyến trên cao bằng nhiều loại đèn lồng trang trí, kết hợp việc bố trí cây xanh một cách hài hòa làm tăng thêm vẻ cổ kính và ấm cúng của nhà hàng.


Không gian nhà hàng thoáng đãng phù hợp với mọi đối tượng thực khách


Thực đơn phong phú, với gần 100 món các loại, đến nhà hàng Nón Lá du khách sẽ được phục vụ nhiều món ăn từ Âu, Á đến những đặc sản của ẩm thực 3 miền quê hương. Nhà hàng cũng là nơi chuyên phục vụ những món ăn tay cầm như: gà tam ly tay cầm, nạm bò tay cầm, ếch tay cầm, hải sản tay cầm…, cùng với món Lẩu vịt nấu bia - đặc sản riêng của nhà hàng, tất cả đều do đầu bếp giàu kinh nghiệm đến từ TP.HCM thực hiện, chắc chắn sẽ khiến du khách hài lòng.

Tuy vừa khai trương vào cuối tháng 4-2011 nhưng nhà hàng Nón Lá đã nhanh chóng dành được sự yêu mến trong lòng thực khách. Với mong muốn mang lại cho thực khách cơ hội thưởng thức loại hình Buffet chất lượng cao giá thành hợp lý, bắt đầu kể từ tháng 7-2011, nhà hàng Nón Lá sẽ chính thức khai trương loại hình ẩm thực mới: Tiệc buffet cuối tháng.

Món tôm hùm thơm ngon sẽ thu hút thực khách


Theo đó, vào thứ bảy của cuối mỗi tháng, chỉ với 100.000 đồng/phần/người, thực khách sẽ được tận hưởng hàng trăm món ăn tươi ngon độc đáo trong thực đơn các món buffet cuối tuần tại đây. Nhằm để tri ân khách hàng, nhà hàng cũng tổ chức chương trình khuyến mãi vào ngày 8 của mỗi tháng, thực khách khi đến với nhà hàng Nón Lá sẽ được khuyến mãi giảm giá 10% trên tổng hóa đơn thanh toán. Từ tháng 7-2011, nhà hàng Nón Lá sẽ bắt đầu phục vụ cà phê, điểm tâm sáng với nhiều món để thực khách lực chọn như bún giò heo, bún thịt nướng… Ngoài ra, nhà hàng cũng nhận đặt cơm trưa văn phòng với giá mềm 25.000 đồng/suất và giao tận nơi. Đặc biệt, khi đặc trên 30 phần sẽ được khuyến mãi thêm món tráng miệng.

Đến với nhà hàng Nón Lá, thực khách sẽ được thưởng thức hàng trăm món ăn Âu, Á các loại, cùng những món ăn đặc sản đậm đà hương vị và cũng rất riêng của nhà hàng như: Lẩu vịt nấu bia, Gà H’Mông tiềm thuốc bắc, Đuôi trăn tiềm thuốc bắc… chắc chắn sẽ khiến bạn hài lòng. Món ăn ngon, giá cả hợp lý, đội ngũ nhân viên phục vụ tận tụy chuyên nghiệp, chắc chắn sẽ mang đến cho thực khách những giây phút thư giãn sau giờ làm việc căng thẳng. Đây là nơi lý tưởng để tổ chức những buổi liên hoan, hội nghị hay những khoảnh khắc gia đình ấm cúng, an lành bên người thân.
Theo BDO

Tokyu Corporation và Becamex IDC Corp ký kết thỏa thuận hợp tác

(DiaocNiemtin.com) Chiều ngày 27-10 - 2011 tại Tokyo (Nhật Bản), Tập đoàn Tokyo Kyuko Dentetsu Kabushiki-gaisha (Tokyu Corporation) và Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển công nghiệp – TNHH MTV (Becamex IDC Corp. – Việt Nam) đã ký kết bản ghi nhớ để cùng hợp tác phát triển công nghiệp, đô thị và dịch vụ; nâng cao chất lượng đô thị trong phạm vi tỉnh Bình Dương nói riêng, cũng như trên phạm vi toàn Việt Nam nói chung.





Ông Nguyễn Văn Hùng, Chủ tịch HĐQT/TGĐ Becamex IDC Corp. (trái) và ông Hirofumi Nomoto, Tổng Giám đốc Tokyu Corporation ký bản ghi nhớ hợp tác giữa Tokyu Corporation và Becamex IDC Corp.
Việc ký kết bản ghi nhớ giữa Tokyu Corporation và Becamex IDC Corp. được kỳ vọng sẽ cống hiến nhiều cho sự phát triển của Việt Nam. Trong bản ghi nhớ này, Tokyu Corporation và Becamex IDC Corp. cùng thỏa thuận những nội dung chính yếu sau: Hai bên sẽ cử đại diện của mỗi bên nhằm lập ra nhóm nghiên cứu phát triển để lựa chọn ra một hay nhiều dự án có tính khả thi để cùng hợp tác đầu tư. Becamex IDC Corp. sẽ hỗ trợ nhóm nghiên cứu thu thập thông tin về sự phát triển của Bình Dương và những tỉnh thành khác ở Việt Nam và các dự án đang phát triển của Becamex IDC Corp. tại Bình Dương, tiếp cận với các cơ quan ban ngành để nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của họ. Tokyu Corporation cũng sẵn sàng trao đổi và tạo điều kiện cho nhóm nghiên cứu học tập những kinh nghiệm về quản lý, vận hành và phát triển dự án; đồng thời, mời gọi thêm nhiều đối tác khác cùng đến Bình Dương để tìm hiểu nghiên cứu đầu tư nhằm thúc đẩy chương trình hợp tác giữa Becamex IDC Corp. và Tokyu Corporation ngày càng có hiệu quả.

Tokyu Corporation là một tập đoàn kinh tế đa ngành nghề, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh trong rất nhiều lĩnh vực như ngành tàu điện, phát triển kiến tạo đô thị, giao thông vận tải, kinh doanh bán lẻ siêu thị, khách sạn, văn hóa giáo dục… Còn Becamex IDC Corp. là một tập đoàn kinh tế đa ngành nghề hoạt động trong các lĩnh vực: chứng khoán, tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, xây dựng, thương mại, bất động sản, dịch vụ, viễn thông - công nghệ thông tin, vật liệu xây dựng, dược phẩm, y tế và giáo dục. Đặc biệt, Becamex IDC Corp. thành công nhiều lĩnh vực lớn như đầu tư và xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp, khu dân cư - đô thị mới và hạ tầng giao thông...


Hai tập đoàn cùng có một điểm chung, điểm tương đồng đó là mang đến cho người dân một môi trường sống ổn định, tiện lợi, an tâm và bền vững. Đặc biệt, 2 tập đoàn còn có những thế mạnh riêng trong lĩnh vực của mình và sẽ phát huy hết những thế mạnh của nhau thông qua sự hợp tác.
Theo Báo Bình Dương

Nhận diện những “thủ phạm” gây bất ổn kinh tế

(DiaocNiemtin.com) “Sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua có sự đóng góp quan trọng của ngành ngân hàng, nhưng sự bất ổn của nền kinh tế nếu có xảy ra trong tương lai cũng sẽ bắt nguồn từ chính những ngân hàng yếu kém”.

Đại biểu Nguyễn Bá Thanh (Bí thư thành ủy Đà Nẵng) đưa ra quan điểm như trên khi nói về những bất cập của chính sách tài chính, tiền tệ, trong đó có việc “đẻ” quá nhiều ngân hàng thương mại thời gian qua.

Ngân hàng cũng buôn đất

Nhìn nhận của đại biểu Thanh khá đồng nhất với đánh giá của nhiều đại biểu khác trong phiên thảo luận của Quốc hội tại hội trường về thực hiện kinh tế - xã hội 2011, ngày 27/10 cũng như các buổi thảo luận tại tổ trước đó.

Đại biểu Quốc hội muốn Chính phủ nhìn nhận thẳng thắn về năng lực quản lý, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ.



Theo đại biểu Nguyễn Bá Thanh, sau Kết luận 02 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 11 của Chính phủ với sự vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương... thì tình hình kinh tế có khá dần lên, song còn nhiều vấn đề vẫn đáng quan ngại; trong đó tỷ lệ lạm phát vẫn ở mức cao, đồng tiền mất giá, nhập siêu tăng... là những nỗi lo thường trực.

Nguyên nhân chính của tình trạng trên, theo đại biểu, là nằm ở chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa nới lỏng trước đó và cơ cấu bản thân nền kinh tế còn nhiều bất hợp lý, phát hành, đưa nhiều tiền mặt vào lưu thông, trong khi hàng thì ít đã dẫn đến lạm phát cao.

Đặc biệt, cơ quan thẩm quyền mà cụ thể là Ngân hàng Nhà nước đã cho ra đời hàng loạt ngân hàng mới, nâng cấp hàng chục ngân hàng nông thôn, nâng tổng số lên gần một trăm ngân hàng, trong khi quản lý nhà nước lại tỏ ra yếu kém đã dẫn đến mất kiểm soát.

“Tôi biết có ngân hàng khi thành lập có vốn khoảng một nghìn tỷ đồng, sau đó họ huy động thêm khoảng 10 nghìn tỷ đồng nữa, rồi nhẹ nhàng rút tiền của mình ra, lấy 10 nghìn tỷ của thiên hạ đi buôn bất động sản. Khi giá đất rớt thê thảm, đến hạn không có tiền trả lại cho người gửi thế là đua nhau đẩy lãi suất huy động lên 18%, 20%, thậm chí 25%, 30%/năm để có tiền, lấy tiền của người sau để trả cho người lấy trước, từ đó đẩy lạm phát lên cao...”, đại biểu Thanh cho hay.

Thậm chí, có ngân hàng “ôm” mấy miếng đất của mình mua rồi ôm luôn mấy miếng đất của người vay mang đi thế chấp, trong khi thị trường nhà đất thì đóng băng, không bán được thế là nợ xấu tăng lên.

“Báo cáo nợ xấu hiện nay là 75 nghìn tỷ đồng, nhưng tôi cho rằng con số này cũng đáng nghi ngờ vì có thể thực tế còn nhiều hơn. Nguy hơn là trong 75 nghìn tỷ đồng đó thì đã xấp xỉ 50% thuộc loại cực xấu, tức là không còn khả năng thu hồi được”, đại biểu nói tiếp.

Nhiều ngân hàng là vậy, song theo đại biểu Đinh Thị Phương Khanh (Long An), cử tri ở nông thôn rất bức xúc vì không tiếp cận được nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại. Mỗi lần “vác” sổ đi vay thì ngân hàng luôn kêu hết vốn (thật ra là ngân hàng ngại cho vay trong sản xuất nông nghiệp vì tính rủi ro cao).

Hơn nữa, trong một thời gian dài, cùng với một hệ thống ngân hàng “hùng mạnh”, nền kinh tế đã bị rơi vào vòng luẩn quẩn bởi nới lỏng chính sách tiền tệ thì bị lạm phát, còn thắt chặt thì nợ xấu tăng lên, sức mua giảm sút, các nguồn tín dụng đen phát triển mạnh và kéo theo đó là nguy cơ đổ vỡ, sự tăng trưởng có nguy cơ bị đe dọa...

Bởi vậy, theo các đại biểu, Chính phủ cần sớm cải tổ hệ thống ngân hàng, nhưng phải hết sức thận trọng và có bước đi thích hợp, "làm sao chúng ta diệt được sâu rầy ở những cánh đồng nhưng vẫn giữ được cánh đồng lúa xanh tốt và có mùa bội thu".

“Quốc hội xem xét các báo cáo của Chính phủ là muốn nói đến trách nhiệm của người điều hành, muốn chỉ ra những yếu kém của quản lý nhà nước chứ không phải chỉ là mổ xẻ tình hình”, đại biểu Nguyễn Đình Quyền nêu ý kiến.

Và những "đồng phạm"

Cùng với những bất ổn của hệ thống tài chính, tiền tệ, nhiều tồn tại ở các lĩnh vực khác cũng được các đại biểu chỉ ra tại phiên thảo luận chiều 27/10.

Đại biểu Mai Thị Ánh Tuyết (An Giang) cho hay, các tập đoàn và tổng công ty nhà nước dù nhận được nhiều vốn, ưu đãi nhưng lại kém hiệu quả. Khối này chiếm tới 60% vốn tín dụng và chiếm 70% vốn ODA, nhưng chỉ đóng góp khoảng 37 - 38% GDP hàng năm, trong đó khoảng 12% bị thua lỗ, với mức lỗ bình quân gấp 12% so với doanh nghiệp ngoài nhà nước.

Một “tội đồ” khác cũng góp sức không nhỏ cho những bất ổn của nền kinh tế, theo đại biểu Lê Như Tiến (Quảng Trị) là tình trạng buông lỏng quản lý đất đai, tài nguyên. Nó không những gây thất thoát, lãng phí rất lớn nguồn lực quốc gia và còn là mảnh đất màu mỡ để nuôi dưỡng tham nhũng, tiêu cực.

Theo báo cáo mới đây của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tình trạng sử dụng đất trái pháp luật, sai mục đích để hoang hóa lãng phí là rất nghiêm trọng. Vẫn còn 2.455 cơ quan, tổ chức với hàng chục nghìn dự án treo để hoang hóa tới 250.862 ha đất. Còn tới 3.311 cơ quan, tổ chức sử dụng đất không đúng mục đích, cho thuê, chuyển nhượng trái pháp luật với diện 25.587 ha, trong khi các quận nội thành Hà Nội cần ít nhất 1.500.000 m2 đất, Tp.HCM cần tới 4.874.000 m2 đất cho các trường phổ thông, các trường mầm non...

“Đầu kỳ họp này, tôi có trao đổi với đồng chí Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội Tp.HCM, đồng chí cho biết tại Tp.HCM, đất của rất nhiều cơ quan, tổ chức để hoang hóa, sử dụng sai mục đích với diện tích rất lớn, nhưng thu hồi chẳng được bao nhiêu vì đụng đâu vướng đó”, đại biểu Tiến cho hay.

Với thực tế trên, đại biểu Trần Văn Minh (Quảng Ninh) mong muốn Chính phủ cần có những phân tích nghiêm túc, sâu sắc hơn về diễn biến tình hình. Bởi, theo đại biểu, thực tế là hiệu quả của nền kinh tế nước ta đang có biểu hiện giảm sút, khi mức đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2006 - 2010 cao hơn giai đoạn trước nhưng tốc đột tăng trưởng kinh tế lại thấp hơn, hệ số ICOR lại tăng lên...

Truyền đạt những nhìn nhận, suy nghĩ của cử tri đối với những bất ổn của nền kinh tế, đại biểu Cao Sỹ Kiêm (Thái Bình) cho biết, dư luận chung hiện đang có một tâm trạng vừa mừng, vừa lo và hi vọng.

Mừng vì trong điều kiện khó khăn trong nước và ngoài nước đang tăng, mà chúng ta đã có kết quả như báo cáo, chúng ta đã có một vị thế được thế giới đánh giá, nhất là giải pháp tình thế là điều đáng mừng. Lo vì đã chỉ đạo rất quyết liệt mà lạm phát vẫn cao, đứng thứ hai thế giới và cách xa các nước trong khu vực.

Cùng với đó, cử tri cũng hy vọng là Chính phủ sẽ có những đột phá vào những khâu rất quan trọng như thể chế, hạ tầng, chất lượng nguồn lực... Đặc biệt là dỡ ra rào cản về tư duy nhiệm kỳ, về lợi ít cục bộ, lợi ích nhóm và bệnh thành tích.

Đại biểu Lê Đình Khanh (Hải Dương) chốt lại: “Tái cấu trúc nền kinh tế và nhiều lĩnh vực khác không phải là vấn đề mới vì Chính phủ và nhiều đại biểu Quốc hội khóa XII đã đề cập khi thế giới lâm vào khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế cần phải chớp thời cơ. Song tiếc là chúng ta nói sớm, nhưng làm muộn”. 
Theo Thời Báo Kinh Tế

Bình Dương thực hiện nghiêm túc cắt giảm đầu tư công

(DiaocNiemtin.com) Đây là nhìn nhận từ Sở Kế hoạch & Đầu tư (KH-ĐT) trong báo cáo với Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh mới đây. Theo đó, thực hiện Kế hoạch 463/KH-UBND ngày 7-3-2011 của UBND tỉnh về triển khai Nghị quyết 11 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, Bình Dương đã tiến hành cắt giảm nghiêm túc 10% vốn đầu tư công theo đúng tinh thần của nghị quyết.

91 dự án được cắt giảm

Theo Sở KH-ĐT, sau khi tiến hành ra soát và làm việc với các chủ đầu tư, UBND các huyện, thị về việc điều chỉnh nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB), theo hướng tiết kiệm 10%, tương đương với 330 tỷ đồng, sở này đã trình UBND tỉnh thực hiện cắt giảm tổng số 91 dự án đầu tư, trong đó vốn tỉnh quản lý có 26 dự án, tương đương 114, 350 tỷ đồng; vốn huyện, thị quản lý 65 dự án, tương đương 215,650 tỷ đồng.



Các công trình trọng điểm vẫn tiếp tục triển khai (Ảnh chỉ mang tính minh họa)
Trong số các dự án được thực hiện cắt giảm, giãn tiến độ theo Nghị quyết 11, có 50 công trình khởi công mới với tổng vốn 199,1 tỷ đồng, trong đó có 10 công trình đang vướng giải tỏa mặt bằng, lập phương án đền bù, kiểm kê, chưa có phương án giải phóng; 15 công trình chưa đủ điều kiện thực hiện dự án, đang lập kế hoạch đấu thầu, điều chỉnh dự án và 25 công trình chưa thực sự cấp bách đã được giảm vốn để giãn tiến độ. Bên cạnh đó, tỉnh cũng thực hiện cắt giảm 20 công trình chuyển tiếp với tổng vốn 60,850 tỷ đồng; trong đó có 6 dự án, công trình giảm vốn do tạm dừng thi công để điều chỉnh lại thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán để đấu thầu, chờ quyết toán và 14 công trình chưa thực sự cấp bách, giãn tiến độ. Cùng với đó, tỉnh thực hiện cắt giảm 18 công trình, dự án đang chuẩn bị đầu tư với tổng vốn 62,550 tỷ đồng; trong đó 9 công trình chưa đủ thủ tục đầu tư, 9 công trình chưa thực sự cần thiết, giảm vốn để giãn tiến độ. Cuối cùng là với các dự án, công trình đang thực hiện thanh toán khối lượng cũng được cắt giảm 3 dự án với tổng vốn 7,5 tỷ đồng là những dự án còn vướng mắc trong thủ tục thanh toán, nên đề nghị được giảm vốn trong quá trình chờ hoàn thiện thủ tục.

Theo Sở KH-ĐT, “việc cắt giảm đầu tư công theo tinh thần Nghị quyết 11 của Chính phủ đã được địa phương thực hiện nghiêm túc và được đoàn kiểm tra của Chính phủ đánh giá cao...”.

Vẫn bố trí thêm vốn cho các công trình cấp bách

Mặc dù thực hiện cắt giảm nguồn vốn đầu tư công là việc làm bắt buộc nhằm kiềm chế lạm phát, tuy nhiên để bảo đảm tiến độ thực hiện các dự án, công trình trọng điểm, quan trọng và bức xúc, Bình Dương vẫn tiếp tục bố trí, bổ sung vốn cho các công trình này nhằm tạo nền tảng hạ tầng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. “Các công trình, dự án bị cắt giảm vốn chủ yếu là các dự án, công trình khởi công mới chưa thật sự cấp bách, chưa đủ điều kiện thực hiện dự án và còn vướng giải tỏa đền bù, còn lại tỉnh vẫn bố trí nguồn vốn cho các công trình bức xúc, bảo đảm an sinh xã hội...”, báo cáo cho biết.

Với chủ trương như trên, việc thực hiện cắt giảm nguồn vốn đầu tư XDCB 10% không làm ảnh hưởng nhiều đến tiến độ thực hiện công tác đầu tư XDCB. Theo đại diện Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, một số dự án mà sở này làm chủ đầu tư vẫn được bố trí thêm nguồn vốn để thực hiện. Đơn cử như dự án khu địa đạo Tam giác sắt, vẫn được bổ sung thêm nguồn vốn. Do đó, việc cắt giảm vốn đầu tư theo tinh thần Nghị quyết 11 không đáng lo ngại trong quá trình thực hiện các dự án, công trình. Tuy nhiên, sở này cũng băn khoăn, vì nghị quyết của HĐND tỉnh đề ra từ nay đến năm 2015, 100% các huyện, thị phải có trung tâm văn hóa. Trong khi đó, các dự án, công trình này đều nằm trong danh mục bị cắt giảm theo tinh thần Nghị quyết 11, sẽ khó bảo đảm được nội dung nghị quyết HĐND tỉnh đề ra. Giải đáp băn khoăn này, theo Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Trần Thị Kim Vân, không nên nghĩ các dự án, công trình liên quan đến văn hóa là không cấp bách, không quan trọng và có thể bị cắt giảm vì tỉnh chỉ thực hiện cắt giảm đối với các dự án văn hóa nào chưa thực sự cần thiết, các dự án còn vướng mắc các thủ tục đầu tư. Do đó, nếu là các dự án văn hóa bức xúc, không vướng mắc các thủ tục đầu tư thì vẫn có thể được bố trí vốn. 
Theo Báo Bình Dương

Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020


Quan điểm phát triển

(DiaocNiemtin.com) Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020 nhằm xây dựng Bình Dương thành một tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, toàn diện đảm bảo mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, xoá đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Tập trung khai thác lợi thế về vị trí địa lý, sự hợp tác của các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cực hạt nhân phát triển là thành phố Hồ Chí Minh để phát triển kinh tế - xã hội. Chủ động hội nhập quốc tế; nâng cao hiệu quả kinh tế gắn với phát triển xã hội trên cơ sở đầu tư có trọng điểm; xây dựng mạng lưới kết cấu hạ tầng đồng bộ; phát triển công nghiệp gắn với phát triển đô thị và dịch vụ; phát triển kinh tế xã hội kết hợp chặt chẽ với bảo vệ môi trường, đảm bảo quốc phòng, an ninh vững mạnh trên địa bàn.

Mục tiêu phát triển

Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng phát triển công nghiệp, dịch vụ. Tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; chú trọng phát triển dịch vụ nhà ở, đào tạo phát triển nguồn nhân lực và chăm sóc sức khoẻ. Hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá và tạo ra sự phát triển cân đối, bền vững giai đoạn sau năm 2015;

Xây dựng Bình Dương thành một tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, toàn diện đảm bảo mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, xoá đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.





Các chỉ tiêu kinh tế cụ thể:

- Cơ cấu kinh tế: phát triển và chuyển dịch theo hướng nâng cao tỷ trọng của các ngành công nghiệp, dịch vụ trong tổng GDP:

   

- Cơ cấu lao động chuyển dịch cùng với cơ cấu kinh tế theo hướng giảm lao động làm việc trong các ngành có năng suất thấp sang các ngành có năng suất, hiệu quả cao hơn:




Năm 2010
Năm 2015
Năm 2020
Ngành nông, lâm, ngư nghiệp
20%
14%
10%
Công nghiệp – xây dựng
45%
48%
45%
Dịch vụ
35%
38%
45%

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More