Đổ vỡ tín dụng và bất ổn thị trường tài chính

(DiaocNiemtin.com) Hàng loạt vụ lừa đảo thông qua huy động vốn với lãi suất cao đỗ vỡ. Những đổ vỡ này đã cho thấy những cảnh báo liên quan đến ngân hàng cũng như bất ổn đối với các thị trường tài chính, chứng khoán, bất động sản.

BĐS - Chứng khoán: bất ổn

Nhận định mới đây từ các cơ quan điều tra cho thấy, đã có khoảng 60 vụ lừa đảo, đổ bể tín dụng từ đầu năm đến nay đều ít nhiều liên quan đến bất động sản, vàng và chứng khoán. Đó là những thị trường bùng nổ mạnh mẽ và có nhiều bất ổn nhất ở Việt Nam trong thời gian qua.

Lý giải về điều này, chuyên gia từ Ngân hàng Tienphongbank cho biết, thời gian trước, thị trường chứng khoán, bất động sản bùng nổ, kiếm tiền có vẻ quá nhanh và quá dễ. Vì thế mà không chỉ nhà đầu tư chuyên nghiệp mà người người, nhà nhà bung ra kinh doanh, thị trường phát triển quá nóng, có bao nhiêu vốn vay mượn dồn hết vào một giỏ. Thậm chí có người còn lạm dụng đòn bẩy tài chính khi trong tay chỉ có 7-8% vốn thực.

Sau thời điểm các cơ quan quản lý thực thi chính sách ngăn dòng tiền vào chứng khoán, bất động sản, những người đầu tư quá lớn, vay mượn nhiều đứng trước nguy cơ một mất một còn.

Chuyên gia từ Viện Thông tin và Dự báo Kinh tế Xã hội cho biết, chứng khoán và bất động sản là hại thị trường tăng trưởng cực mạnh và thu hút một lượng vốn lớn của các nhà đầu tư đổ vào. Như một vòng xoáy, trong giai đoạn đầu, tiền càng đổ vào nhiều thì sự tăng trưởng càng mạnh mẽ. Tiền đẻ ra tiền với mức lợi nhuận không lồ khiến người ta không ngại dốc toàn bộ tiền tự có, nhưng phần lớn là tiền đi vay, cộng thêm các đòn bẩy tài chính, các mánh kích cầu đã khiến cho hai thị trường này phát triển nhanh trở thành một nơi hút tiền lớn. Trong cơn say đó, nhiều người dân, rồi hầu hết các DN và không ít tổ chức tài chính đều "dây máu ăn phần" vào bất động sản và chứng khoán.

Sư hưng phấn đã hút một lượng vốn lớn của rất nhiều người can dự vào BĐS và chứng khoán nhưng đáng kể nhất chính là sự tham gia hậu thuẫn của giới tài chính, ngân hàng đã khiến cho thị trường như một "vòng xoáy" ngày càng lên cao, trong kỳ vọng lợi nhuận lớn nhưng lại trên một nền tảng nguồn vốn vay mượn và các thủ đoạn kiếm lời ngắn hạn.

Nhưng khi lạm phát cao, tín dụng phi sản xuất bị siết lại, thi trường mất nguồn dinh dưỡng và bắt đầu suy kiệt. Để kéo lại nguy cơ đổ vỡ, người ta bắt đầu vay chỗ này, đập chỗ kia với hy vọng sẽ qua giai đoạn khó khăn.

Tuy nhiên, khi các chính sách tiền tệ, tài chính được quyết tâm thắt chặt, ngân hàng - chỗ dựa lớn nhất cũng trở thành đối tượng bị soi xét và thậm chí phải hỗ trợ thì những nhà đầu tư phải tìm mọi cách để cứu mình nếu không muốn sự đỗ vỡ và phá sản đến sớm hơn.

Trong trường hợp đó, một mánh lới cũ nhưng hiệu quả là chấp nhận vay tín dụng đen với lãi suất cao và cả lừa đảo để kiếm tiền trả nợ nóng đã đẩy nhiều nhà đầu tư vào bước đường sai phạm. Hậu quả cuối cùng, khi hết sức chịu đựng mà thị trường chưa có khả năng hồi phục, dẫn tới vỡ nợ.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia Viện Kinh tế Việt Nam, sự hưng phấn và những sai lầm về đầu tư trên sàn chứng khoán hay BĐS; lòng tham, sự cả tin và mánh lới của các vụ lừa đảo vừa qua thì đã rõ nhưng đằng sau đó đã cho thấy sự phát triển bất ổn của những thị trường BĐS và chứng khoán. Thay vì đây là những thị trường cao cấp, kiểm soát chặt thì nó lại phát triển quá nóng và nhiều khi vượt qua sự kiểm soát để thành như một cái chợ, một canh bạc.

Nhờ lại thời điểm chứng khoán lên 1200 điểm, mọi cảnh báo phát triển nóng, nguy cơ đổ vỡ cũng đã được đưa ra, bất động sản tăng cao nhiều lần hơn giá trị thực, vượt xa nhu cầu mua bán cũng đã được khuyến cáo... Tuy nhiên, những cảnh báo dường như đã bị bỏ qua vì tất cả đều đang say máu và có lợi cộng với sự "thăng hoa" của thị trường khiến cho không ai nghĩ mọi việc lại rơi vào kết cụ xấu.

Nhưng qua tác động khủng hoảng kinh tế 2008, chứng khoán bắt đầu đi xuống, và rồi liên tiếp lạm phát, bất ổn trong nước khiến cho nó trượt dài xuống mốc dưới 400 điểm. Những con số giao dịch, tăng điểm, lợi nhuận ấn tượng đã thay bằng màu sự thua lỗ và tê liệt dần của hầu hết nhà đầu tư như ngày hôm nay.

Tình trạng như thế cũng đến với bất động sản. Đã có lúc, giá bất động sản tưởng như không bao giờ ngừng tăng, vì thế tâm lý cứ đổ vào đất, bỏ càng nhiều càng thắng lớn đã kéo người người làm bất động sản, DN nào cũng làm bất động sản... Nhưng rồi lạm phát, hãm phanh tín dụng đã khiến cho thị trường đóng băng. Bất động sản tiền tỷ nhưng đóng băng không giao dịch và nhà đầu tư bắt đầu ôm nợ.

Chính nhiều chuyên gia tài chính đã từ sớm bày tỏ những phát triển lệch lạc trên nền kinh tế. Trong khi các thị trường cơ bản như nhân lực, công nghệ chưa được xác lập thì những thị trường cao cấp như chứng khoán, BĐS lại nóng quá mức. Nó thoát ra ngoài chức năng cơ bản của mình mà trở thành một nơi buôn bán, nhưng cú đầu tư ngắn hạn và canh bạch trao tay tiền tỷ...lôi kéo toàn bộ người dân, DN và cả hệ thống tài chính vào một vòng xoáy.

Những bất cập và nguy cơ đã được chỉ ra nhưng dường như chỉ đến hôm nay mới được nhận rõ thì với nhiều người, đã quá muôn. Còn với nền kinh tế thì phải chịu những tác động không nhỏ. Từ đây, chính chứng khoán và BĐS cũng đang gánh chịu những khó khăn và buộc phải tính cơ cấu lại nếu muốn phát triển cao hơn.

Ngân hàng: Hệ lụy khó chối

Trong những vụ lừa đảo vừa qua, đã có bóng dáng của những nhân viên hay các đơn vị ngân hàng có liên lụy. Tuy tất cả đều phủ nhận sự can dự của mình mà xem đó chỉ là những sai phạm cá nhân, mượn danh ngân hàng.

Tuy nhiên, trong một lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi chặt chẽ sự kiểm soát về pháp lý và đạo đức nhưng ngân hàng đã không kiểm soát được, để danh tiếng, địa vị pháp lý và cả nguồn vốn của mình bị lợi dụng. Điều đó, dù dưới góc độ nào thì chính các ngân hàng cũng đã bị ảnh hưởng, ít nhất là về chất lượng và niềm tin trong mắt người dân.

Tuy nhiên, điều đáng nói hơn chính là dư nợ tín dụng bất động sản của các ngân hàng vào chứng khoán. Trong mấy năm gần đây, khi các ngân hàng thương mại liên tục tăng cho vay phi sản xuất mà chủ yếu là BĐS và chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước đã liên tục cảnh báo rồi cả áp dụng các biện pháp kỷ luật để ngăn chặn.

Trước đây, lo ngại cho vay chứng khoán, định mức cho vay chứng khoán 20% tín dụng đã được đưa ra. Nhưng tỷ lệ này vẫn còn quá cao và tiếp tục được siết lại ở mức 20% vốn điều lệ vào năm 2008. Tại thời điểm đó, sự thay đổi đã khiến cho các ngân hàng không hài lòng và phản đối vì cho rằng bị mất đi một cơ hội làm ăn.

Đối với cho vay bất động sản cũng vậy, năm nào Ngân hàng Nhà nước cũng phải nhắc nhở về hạn chế cho vay nhưng xem ra, sự nhắc nhở này chẳng có mấy tác dụng khi cho vay bất động sản vẫn ở trong mức cao và nguy hiểm và được đánh giá là một nguy cơ đối với an toàn hệ thống.

Sự việc căng lên khi đầu năm nay, Ngân hàng Nhà nước buộc các tổ chức tín dụng phải giảm dư nợ phi sản xuất xuống 22% vào tháng 9 và 16% vào cuối năm thì nhất loạt các ngân hàng kêu ca khó thực hiện rồi lộ ra hàng loạt ngân hàng cho vay bất động sản, chúng khoán rất cao, có ngân hàng lên đến trên 50%.

Sự thực là đến hạn tín dụng phi sản xuất nhưng vẫn có đến 5 ngân hàng không thể đáp ứng tiêu chí này. Thông tin sau đó từ lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cho biết, có đến hàng trăm, ngàn tỷ đồng đang cho vay BĐS và một con số lớn khác đang dính vào chứng khoán.

Đây thực sự là điều đáng lo ngại cho chất lượng tín dụng trong bối cảnh hai thị trường hiện nay. Sự thực rất nhiều khoản cho vay trong hai lĩnh vực này bị rơi vào tình trạng xấu. Ngân hàng nông nghiệp mới đây đã phải thừa nhận đa phần trong tỷ lệ nợ xấu hơn 6% của họ là từ bất động sản. Theo nhận định của các chuyên gia từ Công ty chứng khoán Thăng Long, tình hình tương tự sẽ đến với nhiều ngân hàng khác.

Câu hỏi đặt ra lúc này là liệu có sự liên hệ nào giữa những vụ vỡ nợ và các khoản cho vay của ngân hàng? Và có bao nhiêu phần cho vay của ngân hàng đang rơi vào tính trạng có thể mất vốn vì đầu tư thua lỗ trên thị trường chứng khoán và BĐS? Câu trả lời từ các chuyên gia trong ngành là có và không hề nhỏ. Và tình trạng nợ xấu gia tăng nhanh trong thời gian gần đây chính là một biểu hiện cho tình trạng này.

Các ngân hàng cũng có thể trả lời là họ không lo lắm trước các khoản vay này vì được đảm bảo bởi tài sản. Tuy nhiên, tài sản đảm bảo liệu có được chuyển hóa để bù đắp thanh khoản cho các ngân hàng khi mà thị trường sụt giảm và đóng băng như hiện nay.

Nguy hiểm hơn trong tình trạng hiện nay, khi các khoản vay ngân hàng ngày càng đến hạn, khả năng trả nợ không có... để tránh phá sản và đổ vỡ họ tiếp tục leo theo các khoản tín dụng đen. Thậm chí, rất có thể, những chính sách về ưu đãi mới về lãi suất, tín dụng sẽ lại bị lợi dụng để đảo nợ. Mà chuyện này đã xảy ra nhiều trong những chính sách ưu đãi trước đây.

Theo Diễn Đàn Kinh Tế Việt Nam

Đề xuất thêm 3 loại hợp đồng nhà ở không cần công chứng



(DiaocNiemtin.com) Ngoài 5 loại hợp đồng (HĐ) mà Luật Nhà ở đã quy định không bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực, Bộ Xây dựng đề xuất thêm 3 loại HĐ là HĐ thuê, mượn, ủy quyền quản lý nhà ở vào nhóm này nhằm giảm thủ tục cho người dân.




Bỏ công chứng với HĐ thuê, mượn, ủy quyền quản lý nhà

Bộ Xây dựng cho biết, theo quy định của Luật Nhà ở hiện có 10 loại giao dịch có liên quan đến nhà ở được pháp luật công nhận, bao gồm: mua bán, cho thuê, cho thuê mua, tặng cho, đổi, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ, uỷ quyền quản lý và thừa kế nhà ở. Không có giao dịch cầm cố, bảo lãnh và góp vốn bằng nhà ở.

Cũng theo quy định của Luật Nhà ở thì có 5 loại HĐ không bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực, bao gồm: HĐ mua bán nhà ở của các doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản (BĐS); HĐ cho thuê nhà ở (không phân biệt thời hạn cho thuê) của các doanh nghiệp có chức năng kinh doanh BĐS; HĐ thuê mua nhà ở xã hội; HĐ tặng cho nhà ở mà bên tặng cho nhà ở là tổ chức và HĐ cho thuê nhà ở của cá nhân có thời hạn cho thuê dưới 6 tháng.

Còn 7 loại HĐ còn lại, đó là: HĐ mua bán nhà ở giữa cá nhân với cá nhân; HĐ đổi nhà ở; HĐ cho thuê nhà ở của cá nhân có thời hạn cho thuê từ 6 tháng trở lên; HĐ tặng cho nhà ở giữa cá nhân với cá nhân; HĐ cho mượn, cho ở nhờ nhà ở; HĐ thế chấp và HĐ uỷ quyền quản lý nhà ở đều bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực..

Trên cơ sở thực tiễn và qua nghiên cứu, Bộ Xây dựng đề xuất ngoài 5 loại HĐ mà Luật Nhà ở đã quy định không bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực như trên thì cần quy định thêm 3 loại HĐ để giảm thủ tục cho người dân.

Thứ nhất, HĐ cho thuê nhà ở của cá nhân có thời hạn thuê từ 6 tháng trở lên. Loại HĐ này không cần bắt buộc phải công chứng là để tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong việc thực hiện giao dịch, tránh trường hợp cứ mỗi lần bổ sung, thay đổi nội dung HĐ đã ký thì đều bắt buộc phải thực hiện công chứng hoặc chứng thực.

Thứ hai, HĐ cho mượn, cho ở nhờ nhà ở. Bộ Xây dựng cho rằng, đây là loại HĐ có dạng đơn giản, không gắn nhiều với các quyền và nghĩa vụ của các bên, đặc biệt là không liên quan đến tài chính, phần lớn giao dịch này được thực hiện do có quan hệ họ hàng, bạn bè thân thiết…ít xảy ra tranh chấp và người được mượn, ở nhờ nhà ở thường ở cùng với chủ nhà nên bãi bỏ thủ tục bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực là hợp lý.

Cuối cùng là HĐ uỷ quyền quản lý nhà ở cũng không nhất thiết bắt buộc phải công chứng bởi đây là một dạng HĐ dịch vụ, thường là để thực hiện việc trông coi nhà ở khi chủ nhà đi vắng, không trực tiếp sử dụng nhà ở trong một thời gian và các bên cũng có nhiều quyền và nghĩa vụ giống như HĐ thuê nhà ở hoặc HĐ cho mượn, cho ở nhờ nhà ở...

Luật Nhà ở không quy định HĐ cầm cố, bảo lãnh nhà ở

Bộ Xây dựng cho rằng, đối với hợp đồng thế chấp, về bản chất đây là HĐ có trao đổi giá trị và cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, tranh chấp, vì vậy để bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia thì nên bắt buộc phải công chứng; còn nếu đưa loại HĐ này vào diện không bắt buộc phải công chứng thì cần phải nghiên cứu kỹ, lấy ý kiến rộng rãi của nhiều loại đối tượng có liên quan trước khi quyết định.

Với 3 loại HĐ còn lại, gồm: HĐ mua bán nhà ở ký giữa cá nhân với cá nhân; HĐ đổi nhà ở; HĐ tặng cho nhà ở ký giữa cá nhân với cá nhân thì nên quy định bắt buộc phải qua thủ tục công chứng hoặc chứng thực. Bởi lẽ, đây là các giao dịch về chuyển quyền sở hữu nhà ở, để được Nhà nước công nhận và sang tên quyền sở hữu nhà ở thì cần thiết phải có sự xác minh, kiểm soát về tính pháp lý của giao dịch nhằm tránh sự lừa đảo, gian lận, gây bất lợi cho bên nhận quyền sở hữu, đồng thời để hạn chế gánh nặng phải xác minh tính pháp lý cho cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu. Do đó, đề nghị nên quy định cần phải công chứng hoặc chứng thực 3 loại HĐ này.

Bộ Xây dựng nhận thấy rằng, việc đưa thêm một số loại HĐ vào diện không bắt buộc phải công chứng, chứng thực như nêu trên là hợp lý để giảm thủ tục cho người dân. Tuy nhiên, để thực hiện được yêu cầu này thì cần phải trình cơ quan có thẩm quyền thực hiện sửa đổi, bổ sung đồng bộ, thống nhất cả 3 hệ thống pháp luật, đó là Luật Nhà ở, Luật Đất đai, Bộ Luật dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Riêng đối với HĐ cầm cố, bảo lãnh nhà ở thì không đưa vào quy định cải cách thủ tục hành chính, bởi vì Luật Nhà ở không có quy định về hai loại HĐ này. Đối với HĐ góp vốn bằng nhà ở thì nên thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật về doanh nghiệp.

Theo Lao Động

Nguyên tắc sử dụng điện thoại với đối tác, khách hàng

(DiaocNiemtin.com) Điện thoại là công cụ giao tiếp hữu hiệu và hiện đại trong đời sống nói chung và thế giới kinh doanh nói riêng. Tuy nhiên, không phải nhân viên nào cũng biết cách phát huy hết tác dụng của nó.

Chuyên gia nghề nghiệp Maria nói: “Sử dụng điện thoại là việc cần thiết đối với mỗi nhân viên đặc biệt là với những tổ chức DCR (quan hệ khách hàng trực tiếp) hay các công ty về viễn thông và dịch vụ viễn thông. Tiêu tốn hàng giờ đồng hồ với chiếc điện thoại đã trở thành đặc trưng công việc của họ. Tuy nhiên, có những tổ chức và nhân viên không liên quan mật thiết tới điện thoại vẫn cho nó hoạt động hết công xuất với nhiều mục đích khác nhau. Điều đáng nói là việc nhân viên sử dụng điện thoại như thế nào cho văn minh, lịch sử và vẫn đảm bảo chất lượng công việc thì không phải ai cũng biết, ai cũng quan tâm. Có thể bạn cho rằng đây là vấn đề nhỏ, nhưng mọi việc đều xuất phát từ ý nghĩ chủ quan mà ra. Điều này đã và đang tạo ra một môi trường làm việc lộn xộn, thiếu văn minh và lịch sự”.

Hãy cùng “check” thử danh sách 34 nguyên tắc sử dụng điện thoại chốn công sở. Xem liệu bạn đã chấp hành nó đúng đắn hay đôi khi bạn vô tình để bản thân thoải mái mà “bỏ ngỏ” một trong 34 nguyên tắc sau:

1. Tránh những thuật ngữ không cần thiết cùng lối nói tắt, cắt ngang trong cuộc hội thoại

2. Gọi thẳng tên người gọi trong cuộc trò chuyện (điều này cho thấy bạn thiếu tôn trọng đối tác của mình)

3. Luôn chắc chắn rằng tâm trạng nhận điện thoại của bạn là thoải mái và vui tươi

4. Phát âm rõ ràng

5. Luôn chú ý sử dụng câu nói: “ Xin lỗi! Ai ở đầu dây bên kia” hoặc “Xin lỗi! ai đang cầm máy” để bắt đầu cuộc trò chuyện trong trường hợp không biết danh tính người cầm máy.

6. Trước khi yêu cầu đối tác chờ nối máy, hãy chắc chắn là họ đồng ý và không quên gửi lời cám ơn tới họ.

7. Không để điên thoại đổ chuông quá lâu

8. Đừng quên trả lời cuộc gọi hoặc gọi lại cho ai đó khi bạn đã hứa

9. Luôn sử dụng giai điệu chuông dễ chịu, hòa hợp và thân thiện. Tránh những loại nhạc mạnh và gây sốc.

10. Không làm gián đoạn cuộc nói chuyện của người khác.

11. Không tham gia vào cuộc cãi cọ với người gọi ở chốn công sở.

12. Không thể hiện sự không hài lòng, thái độ nói chuyện cục cằn trước mặt đồng nghiệp.

13. Không giải quyết những việc cá nhân tại nơi làm việc (nghĩa là không sử dụng điện thoại công để buôn chuyện, tán ngẫu hay tán tỉnh ái đó).

14. Không trả lời điện thoại khi đang ăn hoặc nhai kẹo cao su.

15. Không đột nhiên ngắt kết nối với người gọi.

16. Không thể hiện sự vội vã, hớt hải khi đang nói chuyện điện thoại (sẽ tốt hơn nếu bạn trả lời điện thoại khi đã hoàn tất công việc).

17. Liên lạc lại với người gọi khi biết có hộp thư thoại.

18. Chỉ trả lời những cuộc gọi quan trọng khi đang họp (nếu có).

19. Tìm thời gian thích hợp để gọi lại cho ai đó khi phát hiện cuộc gọi nhỡ.

20. Không để lại tin nhắn hoặc hộp thư thoại cho một tài khoản đã quá hạn.

21. Không nói chuyện quá to ở chốn công cộng, bệnh viên hoặc công ty.

22. Nếu có thể, hãy cung cấp cho khách hàng một số điện thoại chung, hay sử dụng tránh tình trạng khách hàng khó khăn trong việc liên lạc.

23. Không gọi điện cho khách hàng trong khung giờ “cấm”: trước 8:00 AM và sau 9:00 PM, trừ khi họ cho phép bạn làm như vậy.

24. (Đối với những nhân viên viên thông) Luôn treo điện thoại và tai nghe lên đúng vị trí, nhẹ nhàng và có ý thức bảo quản.

25. Khi nhận được cuộc gọi, quay lưng lại với máy tính, bàn làm việc và dừng lại những công việc đang dở để những tác động đó không ảnh hưởng đến tâm lý nhận điện thoại của bạn.

26. Luôn để sẵn giấy và bút bên cạnh (đề phòng trường hợp cần dùng), tránh tình trạng tìm kiếm, lục lọi và bắt người gọi chờ quá lâu.

27. Luôn mỉm cười khi nói chuyện (có thể họ sẽ không nhìn thấy nụ cười của bạn, nhưng họ có thể nghe thấy nụ cười trong giọng nói của bạn).

28. Không trả lời nhiều cuộc điện cùng lúc.

29. Điều chỉnh âm lượng và tốc độ nói một cách hợp lý. Tránh tình trạng bạn gọi điện mà đồng nghiệp có thể nghe thấy hết cuộc nói chuyện giữa bạn và khách hàng.

30. Luôn trả lời một cách nhiệt tình và tôn trọng.

31. Nếu có vấn đề gì xảy ra, hãy nhớ sử dụng các cụm từ: thông cảm, vui lòng, xin lỗi. bỏ qua…

32. Luôn cám ơn khách hàng sau mỗi lần kết thúc cuộc gọi.

33. Không vừa gọi điện thoại vừa uống nước hoặc không để những âm thanh trong cổ họng.

34. Không chen ngang vào câu chuyện của người gọi. Để họ nói hết mới có quyền lên tiếng.
Theo Dân Trí

Nhiều doanh nghiệp FDI “lộ mánh” chuyển giá


(DiaocNiemtin.com) Gần 90% doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thuộc diện thanh tra trong 9 tháng năm 2011 bị phát hiện có dấu hiệu sai phạm về hạch toán chi phí và chuyển giá. Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn giải thích rằng, tỷ lệ lớn như vậy là do thanh tra theo nguyên tắc quản lý rủi ro.

“Nhìn chung là áp dụng theo quản lý rủi ro thì cũng như người bị sốt đi khám, không bệnh này cũng bệnh nọ”, ông nói vậy sau câu hỏi của VnEconomy rằng sai phạm về chuyển giá ở doanh nghiệp “ngoại” có là phổ biến với các con số được công bố.

Gần 15% số doanh nghiệp FDI "trốn thuế"

Thông tin chính thức từ Tổng cục Thuế mới đây cho thấy vấn đề đang rất “nóng”. Trong số 585 doanh nghiệp FDI bị thanh tra chuyển giá trong 9 tháng đầu năm nay, có tới 494 doanh nghiệp thuộc diện bị xử lý với nhiều kiểu vi phạm, đạt tỷ lệ gần 90%.

Nhưng Thứ trưởng Tuấn thông tin thêm, ngoài con số báo cáo vẫn còn vài chục doanh nghiệp chưa ban hành quyết định xử phạt, vì còn để cơ hội cho doanh nghiệp giải trình.

Chuyện doanh nghiệp FDI “đụng đâu sai đấy” còn một tham khảo khác để chứng minh mức độ phổ biến.

Theo cơ quan thuế, kế hoạch thanh tra 1.276 doanh nghiệp FDI trong năm nay xuất phát từ cơ sở phân tích thông tin để phát hiện ra các doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá, bao gồm: có số lỗ lớn, liên tục; doanh nghiệp lỗ vượt vốn chủ sở hữu nhưng vẫn đầu tư mở rộng…

Thứ trưởng Tuấn lưu ý thêm hai con số liên quan, đó là trong tổng số khoảng 8.800 doanh nghiệp FDI đang hoạt động và có phát sinh thuế, đối tượng đưa vào kế hoạch thanh tra, so ra chiếm gần 15%.

Không biết có nên coi tỷ lệ gần 15% nói trên là nhiều, nhưng điều đáng nói là dấu hiệu chuyển giá ở doanh nghiệp FDI không phải khó nhận dạng.

“Từ cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế, của việc quản lý rủi ro, có thể thấy số lỗ của doanh nghiệp FDI không bình thường”, Thứ trưởng Tuấn cho biết.

Tuy rằng, việc lỗ lãi của doanh nghiệp phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế, vào đặc điểm từng địa bàn... Nhưng nếu doanh nghiệp ngành xi măng có số thuế phải nộp thường là 14%/doanh số, nay một doanh nghiệp chỉ có 6%, hay báo lỗ quá thời gian thu hồi vốn tới 5-7 năm thì chắc là có vấn đề.

Lật tẩy nhiều “mánh” chuyển giá

Ra quân chống chuyển giá trên diện rộng, đợt thanh tra chuyên đề lần này của Bộ Tài chính đã phát giác nhiều “mánh”, được các doanh nghiệp FDI “chuộng” hơn cả.

Theo tổng hợp của Tổng cục Thuế, sai phạm phổ biến nhất được phát giác là hạch toán chi phí trước nhưng chưa chi; trích lập dự phòng chưa đúng quy định; chi phí không có hóa đơn, chứng từ, vượt định mức; hay hạch toán chi phí không phục vụ sản xuất kinh doanh; chi phí tiền lương, khấu hao không đúng quy định của Bộ Tài chính…

Có tới 401 doanh nghiệp bị phát hiện có các sai phạm kể trên, chiếm 83% tổng số doanh nghiệp sai phạm bị Tổng cục Thuế phát giác trong 9 tháng năm 2011. Qua hạch toán lại, các doanh nghiệp này giảm lỗ 1.544 tỷ đồng, chiếm gần 54% tổng số giảm lỗ mà Tổng cục Thuế xác định được.

Sai phạm phổ biến thứ hai là hạch toán chi phí lãi vay không đúng quy định. Theo số liệu của Tổng cục Thuế, có tới 104 doanh nghiệp vi phạm nội dung này, làm số lỗ phát sinh thêm 258,8 tỷ đồng.

Hai “mánh” là hạch toán sai chi phí chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện và chuyển lỗ không đúng quy định, mức độ phổ biến chỉ vừa vừa với 29 doanh nghiệp và 32 doanh nghiệp vi phạm các quy định này. Tuy nhiên, số lỗ giảm được sau thanh tra chiếm khá lớn, lần lượt là 244,3 tỷ đồng và 239,6 tỷ đồng.

Điều đáng nói là các sai phạm liên quan đến yếu tố ngoài lãnh thổ Việt Nam lại không nhiều. Đáng chú ý là qua thanh tra đã phát hiện 3 doanh nghiệp do nâng khống giá trị tài sản góp vốn vào công ty liên kết làm tăng chi phí khấu hao. Kết quả là giảm lỗ 14,3 tỷ đồng.

Ngoài ra là các “mánh” như ghi khống dịch vụ, hay… quên hạch toán. Như trường hợp có 6 doanh nghiệp chi phí dịch vụ của phía nước ngoài cung cấp nhưng không chứng minh được nội dung dịch vụ thực hiện; 2 doanh nghiệp công ty mẹ đã cam kết không thu các khoản vay dài hạn, dùng vốn chủ sở hữu để bù lỗ, nhưng sau đó các thành viên vẫn góp vốn bổ sung…

Chỉ tính trên các con số tại quyết định xử lý của Tổng cục Thuế trong 9 tháng năm 2011, đã có 3.754 tỷ đồng được loại khỏi số lỗ của các doanh nghiệp FDI. Ngân sách nhà nước cũng thu về thêm hơn một nghìn tỷ đồng, bao gồm 978,8 tỷ đồng truy thu thuế; 86,9 tỷ đồng giảm khấu trừ; 272,4 tỷ đồng phạt vi phạm.

Thứ trưởng Tuấn thông tin thêm, việc kiểm tra sát sao các doanh nghiệp FDI lần này không chỉ là truy thu cho ngân sách mà hướng tới một môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, giúp doanh nghiệp quản trị tốt hơn, nghiêm túc chấp hành pháp luật. Cũng là để doanh nghiệp có được con số lợi nhuận thực sự bảo đảm quyền lợi của cổ đông, với doanh nghiệp liên doanh thì có cổ đông là Nhà nước.
Theo VnEconomy

Đại biểu Quốc hội 'nóng ruột' với tái cơ cấu ngân hàng




(DiaocNiemtin.com) Nợ xấu của các nhà băng và nhu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là một điểm nóng trong phiên thảo luận về tình hình kinh tế xã hội chiều 27/1.

Nhiệm vụ tái cơ cấu nền kinh tế được Chính phủ đề cập khá rõ trong Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2015. Theo đó, các đột phá sẽ tập trung vào 3 khu vực là đầu tư công, doanh nghiệp Nhà nước và hệ thống tài chính - ngân hàng. Kế hoạch này đã nhận được khá nhiều ý kiến đóng góp từ các đại biểu Quốc hội trong phiên thảo luận buổi chiều.

Một trong những đối tượng tái cơ cấu được các đại biểu quan tâm nhất là ngân hàng, bởi theo đại biểu Nguyễn Bá Thanh (Đà Nẵng): “Tăng trưởng của kinh tế Việt Nam thời gian qua có đóng góp quan trọng của ngân hàng, nhưng sự bất ổn nếu có xảy ra trong tương lai thì cũng sẽ bắt đầu từ những ngân hàng yếu kém”.

Theo đại biểu Thanh, yếu kém của hệ thống ngân hàng thời gian qua bắt nguồn từ việc cho ra đời, nâng cấp hàng loạt nhà băng trong khi công tác quản lý còn yếu. “Một ngân hàng thành lập có vốn khoảng nghìn tỷ, huy động thêm 10.000 tỷ nữa rồi nhẹ nhàng rút tiền của mình. Lấy 10.000 tỷ của 'thiên hạ' đi buôn bất động sản. Giá đất sau đó rớt thê thảm, đến hạn không có tiền trả cho người gửi thì đua nhau đẩy lãi suất huy động lên cao”, ông Thanh phân tích.

Một hệ lụy khác của các hoạt động đầu tư của các ngân hàng cũng được đại biểu của thành phố Đà Nẵng nêu ra là tỷ lệ nợ xấu tăng cao. Số liệu báo cáo là 75.000 tỷ đồng nhưng đại biểu Thanh cho rằng có thể lớn hơn. “Ngay trong 75.000 tỷ này cũng có xấp xỉ 50% là nợ rất xấu, tức là xấu đến mức không còn khả năng thu hồi được”, đại biểu này nhận xét.

Trước thực tế đó, đại diện lãnh đạo của thành phố Đà Nẵng cho rằng tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó có tái cơ cấu ngân hàng là việc cần làm ngay. Tuy nhiên, trong quá trình đó, cần hết sức chú ý tới an toàn hệ thống. Còn theo đề xuất của đại biểu Lê Thanh Vân (Hải Phòng) tái cấu trúc ngân hàng hiện nhất thiết phải bắt đầu từ tái cấu trúc nguồn vốn tự có, thông qua các hình thức như mua lại, cổ phần hóa…

Cũng liên quan đến tài cấu trúc nền kinh tế, đại biểu Lê Đình Khanh (Hải Dương) cho rằng bên cạnh 3 đối tượng mà Chính phủ để xuất, nhất thiết phải đẩy mạnh quá trình đổi mới bộ máy Nhà nước, hệ thống giáo dục, thang bảng lương…

Theo phân tích của đại biểu Khanh, trong mấy năm qua, quá trình tái cơ cấu bộ máy quản lý hành chính đã được đẩy mạnh, nhưng thực tế vẫn có nhiều nơi hết sức cồng kềnh. Hệ quả là quản lý chồng chéo, dựa dẫm, đùn đẩy, thiếu hiệu quả. Trong khi đó, hệ thống đào tạo cũng nảy sinh nhiều bất cập, nguồn nhân lực không đáp ứng đủ yêu cầu phát triển. Hệ thống lương, trợ cấp chưa tương xứng và không khuyến khích được người lao động. Đây là những trở lực không nhỏ đối với quá trình phát triển.
“Tái cấu trúc là cấu trúc lại, sắp xếp lại, thực chất là sửa sai, cắt bỏ những cái thừa, cái cản trở sự phát triển. Nó có thể ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều nhóm đối tượng, nhiều bộ, ngành… nên đòi hỏi phải có sự thống nhất từ lãnh đạo. Thậm chí, cần có một nghị quyết của Quốc hội về vấn đề này”, đại biểu Khanh đề xuất.

Vnexpress

Bất chấp kinh tế Mỹ có số liệu tốt, vàng vẫn tăng giá cao


(DiaocNiemtin.com) Đêm qua, thị trường Mỹ đón nhận nhiều thông tin kinh tế được công bố là tốt, thế nhưng giá vàng vẫn tăng mạnh trên sàn Comex từ mức bị điều chỉnh xuống vùng 1705$ nhưng đã quay nhanh trở lại và tăng mạnh lên mức 1748$.

Số liệu của Bộ Lao động Mỹ ngày hôm nay cũng cho thấy, số lượng người thất nghiệp lần đầu giảm 2.000 người xuống 402.000 trong tuần kết thúc vào 22/10. Số người nhận trợ cấp thất nghiệp trong tuần trước giảm 96.000 người xuống còn 3,65 triêu, mức ít nhất kể từ tháng 9/2008.

Theo số liệu của Bộ Thương mại, tổng sản phẩm quốc gia (GDP), bao gồm giá trị của tất cả các hàng hóa và dịch vụ sản xuất tăng với tốc độ hàng năm là 2,5%, phù hợp với dự báo trước đó. So với quý trước, GDP trong quý 3 tăng 1,3%.

Đồng đô la Mỹ giao dịch trên thị trường ngoại hối giảm giá mạnh xuống mức thấp nhất của 6 tuần lễ gần đây. Đô la trong ngắn hạn đang lao dốc trên biểu đồ và điều này cho thấy đà tăng của nó trong trung hạn vừa qua đã nhạt dần. Đây chính là nguyên nhân thúc đẩy các nhà đầu tư, quỹ lớn mua vào kim loại vàng. Mỗi khi đồng đô la xuống giá, kinh tế toàn cầu bao gồm thị trường hàng hóa, thị trường chứng khoán đều tăng điểm. Giá dầu thô tăng cao tới mức 93.7$ trong khi chỉ số Dowjones tăng tới 2.7%.

Các nhà theo dõi thị trường đã đánh giá chính việc châu Âu bơm tiền cứu hệ thống ngân hàng của họ tới 1000 tỷ EUR đã làm lạm phát thị trường tài chính bằng lượng tiền giấy bơm ra. Bên cạnh đó FED vẫn giữ mức lãi suất cơ bản 0% đến 0.25% và thực hiện kích thích kinh tế bằng nới lỏng tiền tệ đã làm các nhà đầu tư lao vào vàng nhằm bảo toàn giá trị. Hệ thống ngân hàng sẽ tràn ngập tiền in để cải thiện thanh khoản, trả nợ cho các khoản lỗ và cho vay tiền để kích thích kinh tế, giúp đỡ các công ty thua lỗ vượt qua cơn vỡ nợ.

Thị trường chứng khoán thế giới và thị trường hàng hóa ngay sau khi EU đạt thỏa thuận chi tiền cứu trợ đã tăng điểm mạnh. Chứng khoán và hàng hóa tăng do kinh tế được kích thích bởi các khoản tiền nói trên nhưng giá vàng tăng mạnh là do lực mua phòng ngừa lạm phát trong tương lai. Nhu cầu đầu tư vàng tăng lên nhanh chóng trong những ngày vừa qua với sức đầu cơ khi EU chi tiền cứu hệ thống ngân hàng của họ.

Theo nhu cầu cung cầu đầu tư, SPDR hôm qua thực hiện bán ra nhẹ 0.6 tấn vàng, giảm trữ lượng từ 1,244.15 tấn xuống còn 1,243.55 tấn. Đây là phiên bán ra đầu tiên kể từ ngày 10/10 trở lại đây sau khi quỹ này thực hiện mua gần 20 tấn vàng.

Về mặt phân tích kỹ thuật, giá vàng đóng cửa ở mức cao trong phiên giao dịch cho thấy mức tăng mạnh nhất trong 4 tuần lễ vừa qua. Đà tăng càng vững chắc trong ngắn hạn và trung hạn với các chỉ báo tăng giá được cải thiện. Đường kênh xu thế 4 tuần lễ tăng điểm được thể hiện rõ trên biểu đồ ngày.

Đà tăng sẽ được củng cố khi vàng đạt mức 1800$. Mức cản trong ngày hôm nay là 1765$ và 1775$. Mức hỗ trợ là 1728$ và 1707$.

Giavang.net

Kinh tế 2012: Khó hơn cho doanh nghiệp

(DiaocNiemtin.com) Năm 2011 là năm cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đối mặt với nhiều nhiều khó khăn: lạm phát tăng cao, lãi suất cao… dẫn đến hàng chục ngàn doanh nghiệp đã giải thể, phá sản.



Theo bộ Kế hoạch và đầu tư, 9 tháng đầu năm 2011, đã có 48.700 doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng hoạt động; trong đó giải thể 5.803 doanh nghiệp, ngừng hoạt động là 11.421 và 31.477 doanh nghiệp đã dừng nộp thuế nhưng chưa đăng ký giải thể.

Tình hình kinh tế năm 2012 có dấu hiệu khả quan hơn hay không? Sài Gòn Tiếp Thị ghi nhận ý kiến của 3 đại biểu Quốc hội trong giờ giải lao tại kỳ họp Quốc hội.

ĐB Cao Sĩ Kiêm (Thanh Hóa), chủ tịch hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam: “Khó hơn cả năm 2011”

Năm 2012, tôi cho là tình hình cả trong nước và quốc tế sẽ tác động làm khó hơn cho doanh nghiệp năm 2012, khó hơn năm 2011. Thứ nhất là các tác động của chính sách thắt chặt tiền tệ, tài khóa năm 2011 sẽ có độ trượt sang năm 2012. Đầu tư không ra nhiều, yếu tố tạo phát triển năm 2012 là khó, kể cả từ ngân sách và từ khối doanh nghiệp. Dễ thấy năm 2011, đầu tư của doanh nghiệp không lớn, chủ yếu là chống đỡ để tồn tại thì năm 2012 còn thắt chặt thì vốn chưa đưa ra được nhiều thì cũng chưa thấy dấu hiệu nào khả quan hơn. Kinh tế thế giới chưa hồi phục nhanh, lại còn nhiều nguy cơ đe dọa suy thoái, tiếp tục khủng hoảng. Cho nên năm 2012 sẽ là năm đặc biệt khó khăn. Năm 2011, số doanh nghiệp thua lỗ, phá sản, giải thể đã lớn thì năm 2012, tôi e là số lượng nhiều hơn. Nên phải củng số, sắp xếp lại mạnh mẽ hơn.

Tôi nghĩ các chính sách thắt chặt tiền tệ, đầu tư công đã bước đầu có chuyển biến tốt, nên làm tiếp để hạ lạm phát xuống. Đó sẽ là tiền đề để giảm lãi suất xuống. Doanh nghiệp sẽ tiếp cận được vốn tốt hơn, tạo khả năng hồi phục cho doanh nghiệp.

Năm nay, số thu ngân sách tăng cao, tôi cho là có nhiều lĩnh vực nhà nước đã tận thu, chủ yếu ở khối doanh nghiệp. Cái giảm, giãn thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2011 chỉ có mức độ vì có thu nhập mới phải nộp. Người có thu nhập cao là rất ít. Theo tôi, sang năm, một mặt chỗ nào thất thu thì phải tăng thu nhưng chỗ nào đang tận thu thì giảm xuống.

Ông Bùi Đức Thụ, vụ trưởng vụ Tài chính-ngân sách, Văn phòng Quốc hội: “Chủ động điều chỉnh, cơ cấu ngân hàng tránh hậu quả phức tạp”

Năm 2012, Quốc hội, Chính phủ dự kiến tiếp tục định hướng xiết chặt chính sách tiền tệ, tài khóa để ổn định kinh tế vĩ mô, cắt giảm chi tiêu công dẫn đến lãi suất tín dụng còn cao. Cái này sẽ là áp lực với các doanh nghiệp. Việc tăng chi phí sẽ buộc nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp qui mô sản xuất, tăng chi phí và giảm lợi nhuận, thậm chí có một bộ phận doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng thua lỗ, phá sản dẫn đến nguy cơ tỷ lệ thất nghiệp tăng lên. Một bộ phận doanh nghiệp không trả được vốn vay do thua lỗ sẽ tác động đến hiệu quả hoạt động, tăng tỷ lệ nợ xấu ở các tổ chức tín dụng, làm xấu đi tính thanh khoản hệ thống ngân hàng.

Tôi cho rằng Chính phủ phải theo dõi, kiểm tra sát các doanh nghiệp, hệ thống ngân hàng để sớm có biện pháp điều chỉnh, không để xảy ra hậu quả xấu, làm tình hình phức tạp hơn. Tôi biết rằng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã chủ động theo dõi nhưng một số ngân hàng nhỏ vẫn đang gặp khó khăn trong đảm bảo tính thanh khoản trong từng thời điểm. Do thắt chặt tiền tệ nên nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận vốn, phải huy động từ các nguồn tín dụng đen, lãi suất rất cao. Theo tôi, phải tăng cường xử lý các tổ chức, cá nhân cho vay nặng lãi để ổn định tình hình..

Lãi suất cho vay chỉ giảm khi lạm phát giảm. Đang kiềm chế lạm phát, thắt chặt tiền tệ thì lãi suất bị tăng lên. Tuy nhiên, với lượng cung tiền tệ, mức cung tín dụng cho phép để giảm lãi suất thì phải điều chỉnh cơ cấu tín dụng một cách hợp lý. Tôi cho rằng, Ngân hàng Nhà nước cần kiên quyết điều hành giảm quy mô tín dụng vào những lĩnh vực không hiệu quả, không nên khuyến khích như bất động sản, chứng khoán… để dồn tiền cho những lĩnh vực cần vốn hơn như nông nghiệp, sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu… để có điều kiện hạ lãi suất một cách hợp lý hơn.

ĐB Nguyễn Thị Nguyệt Hường (Hà Nội), chủ tịch tập đoàn Đầu tư và phát triển Việt Nam: "Cần giảm bớt thuế thu nhập doanh nghiệp"

Năm 2012, khối doanh nghiệp sẽ còn phải đối mặt với nhiều khó khăn nhất định như lạm phát hiện còn ở mức cao. Có thể năm 2012, giảm được lạm phát xuống một con số không phải là điều đơn giản, đòi hỏi nỗ lực từ nhiều phía. Tuy nhiên, tình hình cũng có những điểm sáng nhất định như mức tăng CPI trong mấy tháng cuối năm đã giảm đi. Đây là điều đáng mừng vì CPI giảm đi thì nó có cơ hội và điều kiện để lãi suất cho vay giảm xuống. Về phía ngân hàng thì lãi suất đầu vào được khống chế, giảm còn 14% thì chi phí vốn vay của doanh nghiệp rẻ hơn. Tôi hy vọng Chính phủ, ngân hàng Nhà nước điều hành quyết liệt hơn để trong năm 2012 tạo ra niềm tin, động lực cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn, tiếp tục sản xuất, kinh doanh.

Về chính sách thuế, tôi đồng ý quan điểm của ủy ban Kinh tế Quốc hội là năm tới phải cân nhắc để cân đối tỷ lệ động viên vào ngân sách ở mức hợp lý để đảm bảo tỷ lệ đầu tư và tiết kiệm của người dân. Nếu tỷ lệ tiết kiệm của người dân, doanh nghiệp được cân đối tốt hơn thì tăng khả năng chống đỡ trong lúc khó khăn này. Chúng ta phải quan tâm đến khả năng chống đỡ, chịu đựng của doanh nghiệp.

Theo tôi, nhà nước nên tính toán, giảm bớt tỷ lệ huy động từ thuế vào ngân sách, như thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay là 25% thì có thể giảm xuống cũng là một cách hỗ trợ trực tiếp và kịp thời cho doanh nghiệp lúc này.

Theo SGTT

Nhiều doanh nghiệp FDI lỗ?

(DiaocNiemtin.com) Lợi dụng sự bất cập trong quản lý Nhà nước về tài chính, nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài liên tiếp báo lỗ, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, không phải nộp thuế


Kết quả nghiên cứu về hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vừa được Bộ Tài chính và Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) công bố. Đây được xem là nghiên cứu có tính đại diện nhất về thực trạng của các DN FDI trong 3 năm 2008-2010 thông qua điều tra, nghiên cứu tại 147 DN FDI.

Thiếu khả năng tự chủ tài chính

Một cán bộ tham gia nghiên cứu cho hay điểm cần quan tâm là trong số 147 DN được điều tra, có tới 42 DN có khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) âm. Trong đó, có 22 DN có ROE âm trong 3 năm liên tiếp. Còn nhóm công ty cổ phần được xem là hoạt động hiệu quả thì tỉ suất ROE chỉ đạt có 2,7%, tức là 1 đồng vốn chủ sở hữu nhưng chỉ tạo ra được 0,027 đồng lợi nhuận. Với mức này, DN không bảo đảm hiệu quả kinh doanh và vênh rất lớn nếu so với lãi suất ngân hàng.

Cũng theo kết quả nghiên cứu, “toàn cảnh” DN FDI còn xám xịt hơn trong năm 2010 khi có 38 DN trong số 147 DN được điều tra làm ăn thua lỗ. Trong đó, có 10 DN từ khi cấp chứng nhận đầu tư đến nay chưa phát sinh thu nhập chịu thuế và vẫn trong tình trạng thua lỗ kéo dài. Tổng số lỗ lũy kế của các DN FDI được điều tra đến nay là 11.614 tỉ đồng.

Tổng vốn đầu tư của 147 DN tính đến ngày 31-12-2010 là gần 8 tỉ USD, gấp 1,9 lần so với vốn đăng ký ban đầu. Tổng nợ phải trả là 133.206 tỉ đồng, chiếm 55% trong cơ cấu tổng vốn. Báo cáo nghiên cứu cũng cho biết hệ số tự tài trợ (thể hiện khả năng tự chủ tài chính và tính ổn định dài hạn của DN trong kinh doanh) của các DN FDI trong các năm 2008, 2009, 2010 lần lượt là 0,50%; 0,43%; 0,46%. Tỉ lệ này là quá thấp. Như vậy, các DN phải phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn vay và vốn chiếm dụng.

Thất thu do cơ chế quản lý

Bộ Tài chính cho hay việc DN FDI lỗ mà vẫn mở rộng sản xuất, lỗ liên tiếp trong nhiều năm cho thấy có dấu hiệu chuyển giá. Tức là bằng những thủ thuật tinh vi, DN chuyển lợi nhuận trong nước ra nước ngoài để không phải nộp thuế. Thực tế này đã xảy ra nhiều năm qua và gây bất bình đẳng với những DN FDI làm ăn chân chính. Do vậy, Bộ Tài chính đã chỉ đạo Tổng cục Thuế tập trung thanh tra, kiểm tra những DN lỗ lớn, lỗ liên tiếp trong nhiều năm.

Bà Vũ Thị Mai, Thứ trưởng Bộ Tài chính, cho biết theo kế hoạch từ nay đến cuối năm, Tổng cục Thuế sẽ thanh tra, kiểm tra khoảng 700 DN FDI. Cụ thể, ngành thuế sẽ tập trung vào những DN có dấu hiệu chuyển giá, lỗ liên tục 2 năm trở lên, số lỗ vượt vốn chủ sở hữu hoặc lỗ nhưng vẫn mở rộng kinh doanh. Trong 9 tháng đầu năm nay, theo kết quả thanh tra, kiểm tra bước đầu tại 500 DN FDI báo lỗ, đến nay các DN này đã giảm lỗ được 3.754 tỉ đồng, tăng thu ngân sách khoảng 1.200 tỉ đồng.

Tuy nhiên, Bộ Tài chính cũng nhận định việc giám sát tài chính của các DN FDI hiện rất hạn chế. Các quy định hiện hành chưa có giải pháp kiểm soát các dự án về tiến độ giải ngân, kiểm soát chuyển giá. Vẫn chưa có cơ chế giám sát tài chính đối với các dự án đầu tư nước ngoài. Đây cũng là một trong những lý do mà có tới 10.861 tỉ đồng của các DN được điều tra chuyển về nước dù hiệu quả hoạt động của những DN này không cao.

Theo NLĐ

Kịch bản kinh tế năm 2012: Cách tiếp cận hành động

(DiaocNiemtin.com) Tuần rồi, Chính phủ đã trình Quốc hội hai kịch bản tăng trưởng kinh tế năm 2012. Nhân đây xin giới thiệu đến quý độc giả bài viết của PGS.TS. Trần Đình Thiên thuộc Viện kinh tế Việt Nam phân tích về bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước cũng như tính khả thi của hai kịch bản này cùng những đề xuất của ông.


Việc xây dựng kịch bản kinh tế năm 2012 của Việt Nam dựa vào mấy căn cứ sau: (1) triển vọng kinh tế thế giới trong năm tới và mức độ tác động đến Việt Nam; (2) Thực trạng xuất phát của nền kinh tế Việt Nam khi bước vào năm 2012; (3) Định vị năm 2012 trong quan hệ với các nhiệm vụ phải giải quyết trong trung hạn.

Về triển vọng kinh tế thế giới năm 2012

Các dự báo đều thống nhất nhận định kinh tế thế giới năm 2012 sẽ u ám, thậm chí tồi tệ hơn rất nhiều so với năm 2011. Hai điểm nhấn quan trọng nhất là sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng của kinh tế toàn cầu, nhất là của các trung tâm tăng trưởng (Mỹ, EU, Nhật, Trung Quốc) và sự bất ổn gia tăng, có khả năng xảy ra cuộc chiến tranh tiền tệ và chiến tranh thương mại (thậm chí nguy cơ suy thoái kép).

Trong năm 2012, do độ mở cửa cao, nền kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ chịu tác động tiêu cực từ xu hướng nói trên của kinh tế thế giới. Các năm trước, trong một bối cảnh quốc tế như nhau, các chỉ số kinh tế cơ bản của Việt Nam (tăng trưởng, lạm phát, giá trị đồng tiền, nợ...) đã kém hơn so với nhiều nền kinh tế khác. Khả năng này có thể lại diễn ra trong năm 2012, thậm chí ở cấp độ gay gắt hơn vì nền kinh tế đang khó khăn, thực lực lại bị yếu đi hơn nhiều so với những năm trước.

Tuy có thể có một số tác động “tích cực” nào đó (giá cả hàng hóa, năng lượng, nguyên liệu có thể giảm, giúp giảm CPI, hỗ trợ tăng trưởng), song tình hình kinh tế thế giới năm 2012 nhìn chung sẽ tác động bất lợi nhiều hơn đến sự tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế nước ta.

Thực lực nền kinh tế Việt Nam khi bước vào năm 2012

Xu hướng suy giảm tốc độ tăng trưởng, tình trạng lạm phát cao, thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách nặng nề kéo dài đã nhiều năm và vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Ở đây điểm đáng lưu ý là có thể xuất hiện tình huống vòng xoáy trong phát triển kinh tế, tức là đình trệ đi liền với lạm phát cao, một tình huống rất nguy hiểm.
Một số biểu hiện cần được lưu ý hiện nay là:

- Sức khỏe doanh nghiệp bị hao hụt nặng. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chín tháng đầu năm nay có gần 50.000 doanh nghiệp (9% tổng số) đóng cửa. Tuy mức độ chính xác của số liệu còn phải bàn (có một số bằng chứng gián tiếp nhưng đáng tin cậy cho rằng số doanh nghiệp đóng cửa có thể lên tới 30-35%, tức là gấp 3-4 lần con số công bố), song con số 9% cũng tạm đủ để nói lên tính nghiêm trọng của tình hình.

- Đời sống của dân cư, nhất là nhóm người thu nhập thấp ngày càng khó khăn do lạm phát cao kéo dài và việc làm bị thu hẹp. Hệ quả là sức mua xã hội giảm và lòng tin bị xói mòn.

- Dư địa chính sách và năng lực tài chính nhà nước để tăng tốc độ tăng trưởng (tăng đầu tư Chính phủ) và kiềm chế lạm phát bị thu hẹp mạnh mẽ. Các giải pháp để xử lý vấn đề trong ngắn hạn chủ yếu vẫn là các giải pháp hành chính.

Tình thế phát triển nêu trên cho phép nhận định: cơ sở cho tăng trưởng GDP năm 2012 nhìn chung là yếu hơn so với các năm trước và dư địa chính sách để chống lạm phát và ổn định vĩ mô bị thu hẹp đáng kể.

Định vị năm 2012 trong kế hoạch 2011-2015 và trong chiến lược 2011-2020: lựa chọn mục tiêu ưu tiên

Năm 2012 có nhiệm vụ khôi phục ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát và phục hồi tăng trưởng. Về nguyên tắc, đó là những nhiệm vụ “thông thường” của một nền kinh tế khi lâm vào tình trạng khó khăn. Nhưng năm 2012 là năm đặc biệt, theo nghĩa đây là năm nền kinh tế lâm vào tình thế khó khăn nghiêm trọng, cũng là năm nền kinh tế phải tạo bước ngoặt để xoay chuyển tình hình - ổn định kinh tế vững chắc để khôi phục lòng tin, hạ thấp lạm phát đến mức giúp các doanh nghiệp không lún sâu hơn vào tình thế bi kịch (số doanh nghiệp bị đóng cửa và phá sản tiếp tục tăng). Ngoài ra, năm 2012 còn một điểm nhấn đặc biệt khác: tiến hành tái cấu trúc nền kinh tế với các hành động thực tế mang tính chiến lược để thay đổi mô hình tăng trưởng.

Để thực hiện các nhiệm vụ - mục tiêu đó, ngay từ bây giờ, cần quán triệt tư duy “đánh đổi” khi cân nhắc mức độ ưu tiên giữa mục tiêu ổn định - cải cách (tái cấu trúc) và mục tiêu tăng trưởng trên quan điểm lợi ích phát triển dài hạn (lợi ích chiến lược).

Về cấp độ ưu tiên, thực tiễn nhiều năm cho thấy để đưa nền kinh tế thoát ra khỏi tình trạng khó khăn hiện nay, không thể không ưu tiên cho nhiệm vụ tái cơ cấu. Nhưng để quá trình tái cơ cấu có thể diễn ra, cần ổn định nền kinh tế để tái lập lòng tin thị trường, lòng tin xã hội. Đây phải là hai mục tiêu - nhiệm vụ ưu tiên cao nhất. Như vậy, tăng trưởng đương nhiên không phải là mục tiêu ưu tiên và phải kiên định với lập trường này.

Nhấn mạnh điều này vì thực tế mấy năm gần đây diễn ra một tình trạng nghịch lý: mục tiêu ưu tiên (kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô, tái cơ cấu) thì thường khó (hay không) đạt còn mục tiêu không ưu tiên (tốc độ tăng trưởng GDP) thì đạt được tương đối dễ dàng. Điều này chứng tỏ mục tiêu tăng trưởng được thực hiện theo một cơ chế mang tính tự động, bản năng, bất chấp các nỗ lực chính sách.

Theo logic đó, để xoay chuyển thực tiễn thì điều đầu tiên là phải “đổi mới tư duy”, phải biết đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng ở mức ít tham vọng nhất, ít cần được quan tâm nhất, tức là với sự tự giác cao nhất. Để làm được điều này, trong năm 2012, cần gạt bỏ triệt để căn bệnh “nghiện” thành tích tốc độ tăng trưởng. Chính phủ và cả hệ thống chính trị cần coi trọng hơn hệ thống đánh giá năng lực và thưởng phạt căn cứ vào thành tích chống lạm phát và khôi phục lòng tin.

Phân tích kịch bản kinh tế năm 2012

Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra hai kịch bản tăng trưởng (xem bảng, các con số trong ngoặc thuộc kịch bản 2).

Tuy đã “nén” các chỉ số, song các mục tiêu đề xuất trong cả hai kịch bản, kể cả trong kịch bản “ít lạc quan” cũng đều lạc quan hơn so với kết quả thực tế đạt được năm 2011. Đáng lưu ý là sự cải thiện mạnh mẽ một số chỉ tiêu chất lượng - đầu tư ít hơn nhưng tốc độ tăng trưởng cao hơn, bội chi ngân sách ít hơn.

Trước hết, có thể thấy đây là các con số mục tiêu và cơ bản giống như các năm khác. Với kịch bản này, dường như việc nhận diện tình thế và nhiệm vụ phải làm của năm 2012 không có gì khác biệt, chưa nói là đặc biệt.
Thử đặt một vài câu hỏi cho kịch bản mục tiêu (so năm 2012 với 2011):

1. Tổng đầu tư xã hội giảm mạnh, từ 39,8% GDP xuống 33,5-34% GDP, nhưng tốc độ tăng GDP cao hơn -> như vậy là phải trông đợi vào tăng hiệu quả đầu tư. Nhưng phép màu tăng hiệu quả là ở đâu?

2. Xuất khẩu tăng trưởng chậm hơn nhiều (12% so 31%), nhưng thâm hụt thương mại lại ngang bằng năm 2011 -> có nghĩa là nhập khẩu tăng trưởng chậm hơn nhiều -> tức là “đầu vào” nhập khẩu tăng chậm. Điều đó sẽ tác động đến tăng trưởng GDP theo chiều hướng tiêu cực?

3. Lạm phát thấp hơn nhưng tăng trưởng GDP cao hơn. Chính sách tiền tệ và tài khóa tiếp tục thắt chặt, việc tiếp cận vốn của doanh nghiệp như thế nào?

4. Việc giảm lạm phát xuống dưới 10% đã đủ bảo đảm tái lập ổn định vĩ mô và giúp chặn xu hướng đóng cửa và phá sản của các doanh nghiệp chưa?

5. Mức giảm bội chi ngân sách thấp (chỉ giảm 0,5% GDP). Giả dụ mức thu ngân sách năm 2012 giữ nguyên mức thu của năm năm gần đây (28,2% GDP) thì mức chi tiêu ngân sách năm 2012 vẫn đạt 33% GDP. Đó là chưa kể đến khả năng năm 2012 ngân sách được chi tiêu phần ngân sách vượt thu của năm 2011 (90.000 tỉ đồng). Các con số này cho thấy mức chi ngân sách ở Việt Nam là quá lớn trong những năm vừa qua (so với mức thông thường của đa số quốc gia trên thế giới).

Với các kịch bản nêu trên, có thể đặt câu hỏi phải chăng xu hướng suy thoái rõ rệt của kinh tế thế giới không ảnh hưởng gì đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, rằng tình trạng phá sản và đóng cửa của một số lớn doanh nghiệp trong năm 2011 không ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng GDP?

Đề xuất kịch bản hành động

Trong tình huống cấp bách thì phải có liệu pháp đặc biệt, cần một kịch bản hành động mạnh, rõ ràng, theo đúng tinh thần tái cơ cấu là nhiệm vụ chính của năm 2012. Giải pháp tái cơ cấu phải được coi là trục giải pháp chính của việc ổn định và khôi phục tăng trưởng, các chính sách tiền tệ là giải pháp hỗ trợ, tập trung vào các chính sách tài khóa và cải cách DNNN.

Cách tiếp cận giải pháp là: thực hiện các giải pháp mạnh để xoay chuyển tình hình và chấp nhận trả giá để hạ nhanh lạm phát, tái lập ổn định vĩ mô vững chắc, khôi phục lòng tin và phục hồi các cơ sở tăng trưởng.

Cách tiếp cận mới về các mục tiêu phát triển năm 2012

Mục tiêu ưu tiên là ổn định và khôi phục lòng tin, xác lập mô hình tăng trưởng mới. Bên cạnh đó, các mục tiêu bổ sung là giảm lạm phát xuống 6-7%, không quá chú trọng tốc độ tăng trưởng GDP, có thể chỉ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP 3-4%, cùng lắm là 5%.

Về giải pháp, cần kiên quyết giảm thu ngân sách xuống 24-25% GDP, trên cơ sở đó, thực sự giảm chi ngân sách, giảm đầu tư công, kéo mức thâm hụt ngân sách xuống 4% GDP.

Việc thực hiện các mục tiêu này vừa cho xã hội thấy quyết tâm và hành động tái cơ cấu của Chính phủ, tạo lòng tin cho nhân dân, vừa là cách hỗ trợ thiết thực và tích cực khu vực tư nhân phục hồi hoạt động tăng trưởng.

Đề xuất chương trình hành động

Trước hết, phải bắt tay ngay vào tái cơ cấu thực sự ba lĩnh vực ưu tiên mà Hội nghị Trung ương 3 đã khẳng định (đầu tư công, hệ thống ngân hàng thương mại, khu vực doanh nghiệp nhà nước).

Ngoài ra, còn phải làm một số việc:

- Cải cách hệ thống lương trong khu vực nhà nước, coi đây là phương cách quyết định để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Đây là cách để khôi phục lòng tin của dân.

- Cải cách hệ thống ngân sách theo nguyên lý kinh tế thị trường.

- Đẩy mạnh việc thay đổi Luật Đất đai, không để tình trạng Luật Đất đai luôn chạy theo thực tế và cản trở quá trình đổi mới theo hướng thị trường.

- Tập trung ưu tiên dành vốn nhà nước để xây dựng bốn khu kinh tế tự do, với thể chế hiện đại, đột phá mở đường cho bốn vùng kinh tế trọng điểm (Phú Quốc, Vũng Tàu, Đà Nẵng - Chân Mây, Hải Phòng).

Đó là những yếu tố chính của kịch bản hành động nhằm đạt được kịch bản tăng trưởng với những mục tiêu khiêm tốn hơn về tăng trưởng GDP, song khốc liệt hơn gấp bội về chống lạm phát, ổn định vĩ mô và tái cơ cấu.

Theo TBKTSG

Chỉ 245tr/nền trung tâm dự án khu đô thị Mỹ Phước 1, liền kề 2 làng biệt thự, đường lớn 35m

Bán nền nhà phố ngay trung tâm khu đô thị Mỹ Phước 1, tiện làm ăn, sinh sống, mở cửa hàng, xây kios, phòng trọ,....


 Tiện ích xung quanh bất động sản:


Gần trung tâm thương mại Gần bệnh viện Đa khoa Mỹ Phước Khu vui chơi giải trí Đại Hoàng Cung
Gần làng biệt thự Westernland, Rosemary, Moon River Gần công viên Gần nhà trẻ, nhà mẫu giáo
ĐH Quốc tế Việt Đức Gần chợ, siêu thị Vinatex

Thông tin bất động sản:
Vị trí:Tọa lạc tại khu đô thị Mỹ Phước 1, lô MR19 đường TC1, hướng nam
Mặt tiền đường rộng 35m trải nhựa, đã hoàn chỉnh
Giao thông:thuận tiện, kết nối khu vực: biệt thự, nhà phố, khu giải trí, nhà hàng, khách sạn, khu công nghiệp
Điện, nước: đã kéo đến vị trí từng lô đất
Diện tích: 100m2
Pháp lý: sổ đỏ thổ cư 100%
Giá cực kỳ hấp dẫn:chỉ 245tr/100m2- không đâu rẻ bằng


Đặc biệt: tham gia chương trình bốc thăm trúng thưởng:


MUA ĐẤT TRÚNG ĐẤT


Chương trình bắt đầu từ 25.9.2011 kết thúc vào 25.11.2011


 
                       Liên hệ trước chọn vị trí đẹp                                         


Sàn Giao Dịch Địa Ốc Niềm Tin
             Thanh Huyền 09 37 57 67 06











































































































Nợ xấu ngân hàng: Nguy cơ mất trắng 37 nghìn tỷ đồng

 
(DiaocNiemtin.com) Điều đáng lo là từ đầu năm đến nay, nợ xấu liên tục tăng, nếu so với thời điểm tháng 8/2010 thì nợ xấu đã tăng từ mức 2,53% lên 3,21%.

Nợ xấu toàn hệ thống tổ chức tín dụng đến hết tháng 8/2011 ở mức chấp nhận được, với tỷ trọng 3,21%/tổng dư nợ, nhưng trong bức tranh chung vẫn nổi lên hai điểm đáng ngại: nguy cơ thất thoát trên 37 nghìn tỷ đồng tiền vốn và vùng kinh tế Bắc Trung bộ đang là điểm đen của nợ xấu.

Số liệu từ một đơn vị nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến hết tháng 8/2011, tỷ lệ nợ nhóm 1 (đủ tiêu chuẩn) chiếm 90,89%, nợ nhóm 2 (cần chú ý) chiếm 5,89%, nợ không đủ tiêu chuẩn (còn gọi là nợ xấu từ nhóm 3, 4, 5) chiếm 3,21%.

So tháng 8/2011 với tháng 7/2011, thì nợ nhóm 1 tăng 0,37%, nhóm 2 giảm 0,44%, còn nợ xấu tăng 0,07%.

Chưa kịp mừng, đã vội lo

Tính đến hết tháng 8/2011, tổng dư nợ toàn ngành, kể cả quy đổi ngoại tệ, ước đạt trên 2,3 triệu tỷ đồng, tăng trên 34 nghìn tỷ đồng, tương ứng tăng 1,45% so với tháng trước và tăng 9,58% so với 31/12/2010.

Điểm đáng mừng trong bức tranh nợ toàn ngành của tháng 8/2011 chính là nợ nhóm 1 tăng gần 40 nghìn tỷ đồng mặc dù ở tháng 7/2011, tỷ lệ nợ này giảm. Lý do nợ nhóm 1 của tháng 8 tăng là do tỷ lệ nợ nhóm 2/tổng dư nợ của tháng này kéo xuống mức 5,89% sau khi giảm được 0,44% so với tháng trước.

Và mặc dù biểu đồ nợ nhóm 1 và 2 diễn biến ngược chiều theo hướng tích cực (nợ nhóm 1 tăng, nợ nhóm 2 giảm), nhất là khi cơ cấu 2 nhóm nợ này chiếm tới 96,78%/tổng dư nợ nhưng không vì thế mà mối lo nợ xấu lại nhẹ đi.

Đầu tiên, tính đến hết tháng 8, nợ xấu toàn ngành ở mức trên 76 nghìn tỷ đồng và nếu xét về tốc độ tăng thì nợ xấu của tháng 8 vẫn tăng 0,07% so với tháng 7/2011. Điều đáng lo là từ đầu năm đến nay, nợ xấu liên tục tăng, nếu so với thời điểm tháng 8/2010 thì nợ xấu đã tăng từ mức 2,53% lên 3,21%.

Trong tổng số nợ xấu trên 76 nghìn tỷ đồng nói trên thì cơ cấu nợ nhóm 3 chiếm 30,18%, nhóm 4 chiếm 20,53% và nhóm 5 chiếm trên 49%. Theo quyết định 493 về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro thì nợ nhóm 5 là “nợ có khả năng mất vốn”.

Điều đó đồng nghĩa, các tổ chức tín dụng có nguy cơ mất trắng khoảng 37,2 nghìn tỷ đồng. Mặc dù nếu so sánh với tổng dư nợ toàn hệ thống thì nợ nhóm 3 chiếm 0,97%, nhóm 4: 0,66%, nhóm 5 chiếm 1,58% và nợ xấu vẫn ở mức an toàn.

Tuy nhiên, đáng lo là tỷ trọng nợ nhóm 5 lên tới 1,58% và chiếm một nửa số nợ không đủ tiêu chuẩn. Và nếu các tổ chức tín dụng không có kế hoạch đốc thúc thu hồi nợ thì con số mất trắng trên 37 nghìn tỷ đồng là nguy cơ nhãn tiền.

Điều đáng lưu ý là trong số 114 tổ chức tín dụng hiện nay, mặc dù số lượng tổ chức tín dụng có nợ xấu đã giảm mạnh so với tháng trước, nhưng vẫn có tới 39 đơn vị có tỷ lệ nợ không đủ tiêu chuẩn tăng mạnh. Đơn cử một số đơn vị có nhiều nợ xấu tăng là các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín, Đệ Nhất, Công ty Tài chính Dầu khí, Ngân hàng Liên doanh Việt Thái, Ngân hàng United Overseas Bank…

Tuy nhiên, trái ngược với các đơn vị để nợ xấu tăng cao, vẫn có nhiều đơn vị kiểm soát nợ xấu rất tốt mà ABBank là một ví dụ. Theo đó, hết tháng 8/2011, nợ nhóm 1 của ABBank tăng cao nhất của khối ngân hàng thương mại cổ phần với mức tăng 3,67% trong khi nợ nhóm 2 giảm mạnh nhất so với toàn hệ thống với mức 3,43%.

Đặc biệt, trong tháng 8, nợ xấu ABBank giảm 3,65%, trong đó, nợ nhóm 4 và 5 giảm rất mạnh so với tháng trước ở mức âm 0,15% và âm 0,14%.

“Chúa Chổm” ở Bắc Trung Bộ!

Tính đến hết tháng 8/2011 so với tháng 7/2011, dư nợ cho vay vùng kinh tế Bắc Trung Bộ tăng thêm 2,3 nghìn tỷ đồng, tương ứng tăng 2,15%; còn so với 31/12/2010, con số trên tăng vượt 13 nghìn tỷ đồng, tương ứng tăng trên 13%. Trong đó, nợ nhóm 1 chiếm 92,43%, nhóm 2: 5,63% và nhóm 3,4,5 chiếm 1,95% trên dư nợ cho vay của vùng.

So với 8 vùng kinh tế cả nước thì nợ xấu ở Bắc Trung Bộ đang là nỗi lo ngại thực sự cho các tổ chức tín dụng giải ngân vào khu vực này.

Cụ thể, nợ không đủ tiêu chuẩn (nhóm 3, 4, 5) vùng này đến hết tháng 8/2011 ước đạt 2,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 2,8% nợ không đủ tiêu chuẩn toàn hệ thống. Điều đáng lưu ý là trong 3 tháng liền, nợ xấu của vùng tiếp tục tăng mạnh.

Còn so với 31/12/2011, nợ không đủ tiêu chuẩn của vùng tăng 1,11%, trung bình mỗi tháng trong 8 tháng đầu năm, nợ xấu tăng gần 0,14%/tháng.

Trong tổng số nợ xấu 2,1 nghìn tỷ đồng nói trên, nợ nhóm 3 chiếm 54,38%; nhóm 4 chiếm 32,23% và nhóm 5 chiếm 13,39%. Như vậy, những tổ chức tín dụng bị dính nợ nhóm 5 ở khu vực này đang đối mặt với thất thoát vốn 287,7 tỷ đồng.

Trong số các tỉnh ở Bắc Trung Bộ thì Nghệ An là địa phương đứng đầu về tốc độ tăng nợ xấu với mức 0,83%, sau đó là Thừa Thiên Huế: 0,48%, Quảng Trị: 0,43%, Hà Tĩnh: 0,12% và cuối cùng là Thanh Hóa với 0,02%.

Quan sát tổng thể nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng, thấy nổi lên một số điểm chú ý:

Trước hết, tốc độ tăng nợ xấu, đặc biệt là ở các nhóm 3, 4, 5 tăng liên tục qua các tháng. Đây là điều đáng lo khi mà thời điểm cuối năm, các ngân hàng đứng trước áp lực thu hồi vốn trả khách hàng để họ chi trả thanh lý hợp đồng; có thêm nguồn thực hiện các cam kết tài chính; kết chuyển sổ sách cuối năm. Những áp lực này càng tăng thêm khi mà tốc độ tăng trưởng tiền gửi đang có dấu hiệu chững lại.

Thứ hai, tốc độ tăng nợ xấu cao, tỷ trọng nợ xấu ở các nhóm 4, 5 lan rộng thêm trong cơ cấu nợ không đủ tiêu chuẩn, sẽ là những tín hiệu lo ngại về nguy cơ thất thoát vốn ở các tổ chức tín dụng.

Ở một bình diện khác, Ngân hàng Nhà nước vẫn kiên trì với chính sách thắt chặt tiền tệ: tăng trưởng tín dụng không quá 20% trong năm nay; đồng thời, đến 31/12/2011, họ phải đưa tỷ trọng tín dụng phi sản xuất từ 22% xuống 16%. Như vậy, chẳng những tín dụng không được bơm tiếp mà còn bị thu hẹp lại, dẫn đến các dự án sẽ gặp nhiều khó khăn, nhất là các dự án đang dính vào nợ nhóm 4 và 5. Lúc đó, các tổ chức tín dụng sẽ khó lấp liếm được nợ xấu và quá trình mất vốn sẽ lộ diện nhanh hơn.

Thứ ba, quan sát gần đây trên thị trường thấy rằng, một số đơn vị đã có những xáo trộn về nhân sự lãnh đạo. Theo đó, một số ngân hàng đề bạt tổng giám đốc xuất thân từ nghiệp vụ chính là kế toán, kiểm toán, nhiều năm làm kiểm soát nội bộ như ABBank; hoặc trong ban điều hành của MB có một phó tổng giám đốc với nghề chính là kế toán, kiểm soát nội bộ. Điều này cho thấy, những đơn vị nào biết lo giữ hầu bao, “ăn chắc, mặc bền”, nhất là trong bối cảnh thị trường diễn biến phức tạp, đơn vị đó sẽ kiểm soát tốt rủi ro và vẫn cân đối nguồn lành mạnh. 
Theo Vneconomy

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More