Năm 2020, hàng triệu thanh niên Việt Nam có thể ế vợ



Đến năm 2020, số lượng nam dự đoán nhiều hơn nữ từ 2,3 đến 4,3 triệu người. Điều này sẽ dẫn đến hàng triệu nam giới có thể không lấy được vợ, tạo ra nhiều vấn đề xã hội.



Nhiều gia đình muốn sinh con trai dẫn đến mất cân bằng giới tính. Ảnh minh họa.


Nguy cơ về hàng loạt vấn đề xã hội phát sinh từ sự mất cân bằng giới tính khi sinh và cấu trúc dân số không hợp lý một lần nữa được cảnh báo tại cuộc hội thảo quốc tế diễn ra ở Hà Nội trong hai ngày 5 và 6 - 10. Hội thảo “Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh: Giải quyết vấn đề và định hướng cho tương lai” do Bộ Y tế và Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tổ chức, với sự tham dự của các phái đoàn đến từ 11 quốc gia.

Phát biểu tại Hội thảo, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân khẳng định, sau 50 năm thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Mức sinh và tỷ lệ tăng dân số đã giảm mạnh, tình trạng sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ và trẻ em đã được cải thiện rõ rệt.

Kể từ năm 1979 đến năm 1989, tỷ lệ tăng dân số trung bình là 2,1%, từ năm 1989 đến năm 1999 tỷ lệ này là 1,7%, từ năm 1999 đến năm 2009 là 1,2%, năm ngoái tỷ lệ tăng dân số là 1,05%. Số con trung bình trên một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là hai con.

Kết quả này khẳng định sự đúng đắn của chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, nâng cao chăm sóc sức khỏe, giáo dục và phát triển kinh tế ở Việt Nam.

Tuy nhiên, Phó thủ tướng cũng cho hay, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình của Việt Nam vẫn đang đứng trước nhiều thách thức lớn như: có sự chênh lệch lớn về mức sinh giữa các tỉnh và các vùng, miền; đặc biệt, tỷ số giới tính khi sinh có xu hướng ngày càng gia tăng.

Năm 1979, tỷ số giới tính khi sinh là 105 bé trai trên 100 bé gái thì năm 1989 là 106, 1999 là 107, năm 2009 là 110,5 và năm 2010 là 111.

Do vậy, theo dự báo dân số, nếu không có các biện pháp can thiệp hiệu quả hơn thì tỷ lệ mất cân bằng này sẽ tăng lên 113 bé trai/100 bé gái năm 2015 và đạt tới 115 năm 2020.

Chính phủ Việt Nam hết sức quan ngại về những cảnh báo này vì như vậy, đến năm 2020, số lượng nam nhiều hơn nữ từ 2,3 đến 4,3 triệu người. Điều này sẽ dẫn đến hàng triệu nam giới có thể không lấy được vợ, tạo ra nhiều vấn đề xã hội.

Theo Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Việt Nam không thể thu hút phụ nữ từ các quốc gia khác vì chính các quốc gia này cũng đang gặp phải các vấn đề tương tự.

Phó thủ tướng đánh giá cao sáng kiến của Bộ Y tế và Liên hợp quốc trong việc tổ chức hội thảo này và hy vọng rằng sự trao đổi đóng góp ý kiến của các nhà chuyên môn sẽ giúp Việt Nam định hướng lại chính sách về phát triển gia đình và xây dựng một hệ thống chăm sóc y tế và xã hội hiệu quả hơn để mang lại tỷ số giới tính bình thường giúp cho con người Việt Nam hạnh phúc và quốc gia an toàn, bền vững.

Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, tỷ số giới tính khi sinh nằm trong khoảng 104-106 bé trai trên 100 bé gái. Tuy nhiên, tỷ số này đã gia tăng nhanh chóng trong 25 năm qua tại một số quốc gia châu Á, đặc biệt là ở Trung Quốc và Ấn Độ.

Hiện nay, toàn châu Á đang thiếu hụt tới 117 triệu phụ nữ do mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh. Mặc dù Việt Nam không phải là quốc gia đầu tiên phải đối mặt với tình trạng này, song thực tế cho thấy thách thức này rất lớn khi tỷ số giới tính khi sinh ngày càng gia tăng.

Với Việt Nam, hệ lụy của tình trạng nam nhiều hơn nữ còn có thể là gia tăng áp lực buộc phụ nữ phải kết hôn sớm hơn, nhu cầu mua bán tình dục cũng có thể ngày càng tăng và các mạng lưới buôn bán phụ nữ có thể sẽ mở rộng hơn.

Theo Vietnam+

Hà Nội sẽ phân làn trên tất cả tuyến phố

Bên cạnh việc phân làn các tuyến phố, Hà Nội sẽ thí điểm xây dựng cầu lắp ghép dành cho xe cơ giới dưới 3 tấn, xây dựng phương án thí điểm hạn chế hoặc cấm lưu thông đối với môtô, xe máy trên một số tuyến phố.
Theo công văn của UBND TP Hà Nội do Phó chủ tịch Nguyễn Văn Khôi ký, Sở Giao thông Vận tải sẽ chủ trì, phối hợp với Công an thành phố và các đơn vị liên quan xây dựng phương án tổ chức phân làn hợp lý cho các loại phương tiện trên tất cả tuyến phố, trình UBND thành phố trước ngày 15/10.

"Rà soát hệ thống biển báo, đèn tín hiệu giao thông, sơn kẻ đường... để điều chỉnh, bổ sung hợp lý nhằm khai thác tối đa, an toàn hạ tầng giao thông vận tải hiện có. Tập trung duy tu, duy trì đảm bảo hệ thống đường giao thông, sửa chữa cầu đảm bảo an toàn", Phó chủ tịch thành phố chỉ đạo.

Nhìn cảnh bát nháo này không ai biết rằng phố Đại Cồ Việt cũng đã được phân làn. Ảnh: Tiến Dũng.


Cũng theo ông Khôi, từ ngày 1/10 Sở Giao thông Vận tải phải kiểm tra, rà soát để đình chỉ, thu hồi giấy phép kinh doanh điểm đỗ ôtô, xe máy đã được cấp phép nhưng gây cản trở giao thông; nghiên cứu, đề xuất nâng cao hơn mức xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện cơ giới, tịch thu phương tiện tham gia đua xe trái phép.

Sở Giao thông cần khảo sát, nghiên cứu ngay việc xây dựng cầu lắp ghép cho phương tiện cơ giới đường bộ có trọng tải nhẹ từ 3 tấn trở xuống tại nút giao thông đồng mức có mật độ lớn, thường xuyên gây ra ùn tắc tại nội đô, trên các trục hướng tâm. Nếu việc xây dựng khả thi và an toàn thì đề xuất UBND thành phố cho phép xây dựng 1-2 vị trí thí điểm.

Đường Giải Phóng đã phân làn nhưng trước cửa bến xe Giáp Bát vẫn vô cùng lộn xộn. Nguyên nhân của tình trạng này chính là sự thờ ơ của lực lượng chức năng. Ảnh: Tiến Dũng.


"Khẩn trương xây dựng phương án thí điểm hạn chế hoặc cấm lưu thông trong thời gian thích hợp đối với môtô, xe máy lưu thông trên một số tuyến phố trong đô thị để rút kinh nghiệm, nhân rộng nếu có hiệu quả trong việc giảm ùn tắc", ông Khôi chỉ đạo.

Bên cạnh đó, lãnh đạo thành phố cũng yêu cầu Tổng công ty Vận tải Hà Nội rà soát hệ thống xe buýt hiện có, điều chỉnh, bổ sung hợp lý phương tiện phù hợp tối đa với hạ tầng giao thông hiện có và đảm bảo an toàn trong khai thác.

Trước đó, gần cuối tháng 9, Hà Nội thí điểm phân làn trên phố Huế - Hàng Bài, Bà Triệu, Trần Khát Chân - Đại Cồ Việt - Xã Đàn, Giải Phóng, Kim Mã. Tuy nhiên, sau gần nửa tháng, giao thông trên các tuyến phố này vẫn không được cải thiện đáng kể, ôtô vẫn dàn hàng ngang, giành đường của xe máy và ngược lại.

Tiến Dũng

Tiền lương sẽ tính theo cơ chế thị trường


“Theo quan điểm của tôi chúng ta phải xác định vấn đề tiền lương trong dự án Luật - vấn đề tiền lương tiền công phải là giá trị sức lao động, theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”.

Không để doanh nghiệp lợi dụng lương tối thiểu

Theo Ban soạn thảo, những sửa đổi, bổ sung về tiền lương trong dự án Bộ Luật Lao động (sửa đổi) dựa trên các nguyên tắc Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào mức tiền lương của người lao động, chỉ quy định mức tiền lương thấp nhất mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động.



Các thành viên Ủy ban TVQH đồng tình trong dự án Bộ Luật Lao động (sửa đổi) là sẽ quy định lương tối thiểu theo cơ chế thị trường phù hợp với sức lao động (Ảnh minh họa).


Thảo luận về dự án Bộ Luật Lao động (sửa đổi) tại Thường vụ Quốc hội hôm nay (5/10) đối với vấn đề nêu trên, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng - An ninh Nguyễn Kim Khoa nhấn mạnh, tiền lương và tiền công là vấn đề lớn nhất trong quan hệ lao động, đây là gốc của nhiều vấn đề. Nếu giải quyết được vấn đề này sẽ giải quyết được nhiều vấn đề bức xúc, trong đó có việc đình công.

Theo ông Khoa, nếu chỉ có tiền lương tiền công xác định theo vùng thì chưa đáp ứng được, nhiều doanh nghiệp (DN) lợi dụng lao động giá rẻ để họ đầu tư lợi nhuận của họ, nếu thế họ cứ lấy cái lương cuối cùng nhất để trả sẽ gây khó khăn cho người lao động – đây là sơ hở cho các DN lợi dụng.

“Quy định này trong dự án luật chưa đáp ứng được yêu cầu, theo quan điểm của tôi chúng ta phải xác định, tiền lương trong dự án luật này phải là giá trị sức lao động, theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” – ông Khoa nhận định.

Đồng tình với ý kiến của ông Khoa, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Phan Xuân Dũng cho rằng quy định về lương tối thiểu thì đúng nhưng phải viết thế nào cho rõ.

“Vừa rồi chúng tôi đi giám sát tối cao các DN thì thấy các DN nước ngoài lợi dụng quy định này hạ mức lương của công nhân. Bên họ (DN nước ngoài) 2-3 triệu/tháng thì công nhân bên mình (DN nhà nước) 3-4 triệu/tháng. Luật này phải làm thế nào để giải quyết được tình trạng đó, chứ khi được hỏi thì họ chỉ nói trong luật quy định như thế, chúng tôi sẽ cố gắng nâng cao hơn” - ông Dũng nêu.

Về nội dung này, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh, lương và lương tối thiểu là vấn đề cơ bản nhất trong quan hệ lao động, là cái quan tâm nhất, theo đó trong dự án Bộ Luật Lao động (sửa đổi) sẽ quy định lương tối thiểu theo cơ chế thị trường phù hợp với sức lao động.

Làm thêm 200 giờ/năm hay 360 giờ/năm?

Dự thảo dự án Bộ Luật Lao động (sửa đổi) cũng quy định về vấn đề làm thêm giờ, thay đổi cách tính thời giờ làm thêm từ theo năm sang theo tháng. Theo đó, thời giờ làm thêm tối đa trong một năm theo quy định của Bộ luật Lao động hiện hành là 200 giờ (một số nhóm ngành là 300 giờ) được tăng lên 360 giờ (30 giờ/ tháng x 12 tháng) trong một năm.

Quy định này có 2 luồng ý kiến, trong đó đề nghị tăng thời giờ làm thêm tối đa của người lao động để phù hợp với bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay của nước ta.

Luồng ý kiến thứ 2 đề nghị giữ như quy định hiện hành về thời gian làm thêm, tối đa là 200 giờ trong một năm trừ một số trường hợp đặc biệt được làm thêm không quá 300 giờ trong một năm. Vì điều này phù hợp với điều kiện về thể chất của người lao động Việt Nam, và để tránh được việc người sử dụng lao động liên tục huy động làm thêm giờ để không tuyển thêm lao động.



Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội Trương Thị Mai (Ảnh: Kiều Minh)
Chính phủ đề nghị theo ý kiến thứ nhất. Theo đó, dự án luật quy định người sử dụng lao động có quyền huy động người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện: Được sự đồng ý của người lao động; Đảm bảo số giờ làm thêm của người lao động tối đa không quá 50% số giờ làm việc chính thức trong một ngày và không quá 30 giờ trong một tháng; Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động được nghỉ bù.

Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội Trương Thị Mai phân tích, giờ làm thêm tăng 365 giờ tức là 45 ngày, nếu làm thêm gần như không có ngày chủ nhật, nếu khuyến khích làm thêm trong thời điểm lương thấp thì cũng là khuyến khích lao động giá rẻ, lao động không an toàn.


Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu thì cho rằng, trong thực tế nhu cầu làm thêm giờ là có thực, là nhu cầu từ 2 phía, tuy nhiên theo đánh giá các báo cáo của Chính phủ thì nên nghiên cứu thận trọng một số quy định cho người sử dụng lao động và người lao động.

Làm rõ quy định này, Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH Phạm Thị Hải Truyền cho biết: “Tôi đồng ý với Ủy ban các vấn đề XH nên quy định từng loại làm thêm có từng quy định khác nhau, làm thêm ngày phải khác làm thêm ban đêm, ngày thường khác ngày lễ và ngày chủ nhật”.

Điều 100. Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng thời hạn.

Trường hợp đặc biệt phải trả lương chậm thì không được chậm quá 1 tháng và người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương.

Tiếp tục bán ngoại tệ bình ổn thị trường


Đây là khẳng định mới nhất của Ngân hàng Nhà nước trước tình hình ngoại tệ biến động trong những ngày qua. Ngân hàng Nhà nước khẳng định, chu chuyển ngoại tệ của nền kinh tế tiếp tục được cải thiện hỗ trợ ổn định tỷ giá và lãi suất ngoại tệ.


Bán ngoại tệ, ổn định tỷ giá

Theo Ngân hàng Nhà nước, trong thời gian gần đây, giá vàng thế giới biến động rất mạnh và bất thường cộng với tập quán mua vàng vào của người dân vào quý IV và tâm lý nhận định giá vàng thế giới tiếp tục lên đã thúc đẩy hoạt động đầu cơ, buôn bán vàng trong nước tăng mạnh. Từ đó gây áp lực lên thị trường ngoại tệ và tỷ giá. NHNN đã kịp thời có nhiều giải pháp để ổn định thị trường.

Tuy nhiên, để đối phó với nhu cầu mua vàng gia tăng đột biến trong những ngày gần đây, NHNN sẽ có ngay các biện pháp đủ mạnh để ổn định giá vàng trong nước phù hợp với giá vàng thế giới, chống đầu cơ, buôn lậu vàng qua biên giới ảnh hưởng tới sự ổn định của thị trường ngoại hối, tỷ giá. NHNN và các NHTM sẽ tiếp tục bán ngoại tệ can thiệp thị trường, giải quyết đầy đủ nhu cầu ngoại tệ cần thiết của nền kinh tế, đảm bảo ổn định tỷ giá từ nay đến cuối năm với mức biến động không quá 1%.



Vì thế, Ngân hàng Nhà nước khẳng định, có đầy đủ cơ sở thực tiễn đảm bảo thị trường ngoại hối, tỷ giá ổn định trong những tháng còn lại của năm 2011, tạo điều kiện để cải thiện tốt hơn trong năm 2012.

Theo số liệu công bố, cán cân thanh toán tổng thể chuyển sang thặng dư nhờ cán cân vãng lai và cán cân vốn và tài chính được cải thiện. Theo số liệu thống kê, 7 tháng đầu năm 2011, cán cân thanh toán tổng thể đạt thặng dư trên 5 tỷ USD, trong đó mức thặng dư cải thiện qua từng quý, trong đó quý I/2011 thâm hụt, quý II và quý III/2011 đạt mức thặng dư cao.

Bên cạnh đó, tiền gửi ngoại tệ của tổ chức tính dụng tại NHNN tăng cao trong tháng 9/2011 cho thấy thanh khoản ngoại tệ của hệ thống ngân hàng tiếp tục được đảm bảo. Tính đến ngày 29/9/2011, tiền gửi ngoại tệ của tổ chức tính dụng tại NHNN tăng 45,1% so với cuối tháng 8/2011, tương đương với mức tăng thêm 586 triệu USD.

Vì thế, Ngân hàng Nhà nước khẳng định, luồng chu chuyển ngoại tệ của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng có nhiều chuyển biến tích cực. Cán cân thanh toán quốc tế thặng dư, dự trữ ngoại hối nhà nước được củng cố và thanh khoản ngoại tệ của hệ thống ngân hàng được đảm bảo trong những tháng vừa qua là cơ sở quan trọng để ổn định tỷ giá USD/VND và lãi suất ngoại tệ trên thị trường trong nước trong những tháng còn lại của năm 2011.

Hy vọng về thặng dư

Theo số liệu công bố của Ngân hàng Nhà nước, các nguồn ngoại tệ vào Việt Nam như hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ và thu hút chuyển tiền kiều hối đều đạt mức tăng ấn tượng.

Trong 9 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 146,9 tỷ USD, tăng 30,9% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó: kim ngạch xuất khẩu ước đạt 70 tỷ USD, tăng 35,4% so với cùng kỳ 2010; nhập khẩu ước đạt 76,9 tỷ USD, tăng 26,9% so với cùng kỳ năm 2010.

Đây là những mức tăng trưởng rất cao trong bối cảnh nền kinh tế thế giới còn gặp nhiều khó khăn và biến động khó lường. Diễn biến cho thấy, cả xuất khẩu và nhập khẩu đều có xu hướng tăng qua từng quý nhưng xuất khẩu luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với nhập khẩu. Nhờ đó, nhập siêu được cải thiện dần.

Trong khi đó, tính chung 9 tháng đầu năm 2011, nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu chỉ ở mức 9,8%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu kiểm soát nhập siêu 16%.

Bên cạnh đó, cán cân dịch vụ cũng được hỗ trợ nhờ hoạt động xuất khẩu du lịch. Trong 9 tháng đầu năm 2011, thu từ xuất khẩu du lịch đạt 2,8 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm và ước đạt trên 4 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2011.

Chuyển tiền một chiều của khu vực tư nhân trong 7 tháng đầu năm 2011 có sự cải thiện đáng kể so với cùng kỳ năm 2010. Việt Nam đã thu hút được 5,6 tỷ USD chuyền tiền một chiều của khu vực tư nhân (bao gồm cả chuyển tiền của người lao động Việt Nam ở nước ngoài và kiều hối), tăng 42,7% so với cùng kỳ năm 2010.

Ngân hàng Nhà nước nhận định, với những yếu tố tích cực nêu trên, cán cân vãng lai đã được cải thiện đáng kể. Tính chung 7 tháng đầu năm 2011, cán cân vãng lai thặng dư 1,3 tỷ USD (cùng kỳ năm 2010 thâm hụt 3,2 tỷ USD)

Cùng với đó, thặng dư cán cân vốn và tài chính tăng khá so với cùng kỳ năm 2010.

Cụ thể, về vốn FDI, trong 7 tháng đầu năm 2011, vốn FDI thực hiện của phía nước ngoài đạt 4,7 tỷ USD. Nếu trừ đi 530 triệu vốn FDI của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, lượng vốn FDI vào ròng trong 7 tháng đầu năm 2011 đạt 4,17 tỷ USD. Trong 9 tháng đầu năm 2011, FDI ước tính đạt 6,1 tỷ USD, tương đương mức cùng kỳ năm 2010.

Về vốn đầu tư gián tiếp, 7 tháng đầu năm 2011, vốn đầu gián tiếp vào Việt Nam ước đạt 700 tỷ USD, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2010 và trong 9 tháng đầu năm 2011, ước đạt 1 tỷ USD, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2010

Ngoài ra, hệ thống ngân hàng tích cực rút tiền gửi ngoại tệ ở nước ngoài và huy động vốn trên thị trường quốc tế để đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng ngoại tệ trong nước trong 7 tháng đầu năm 2011 trở thành nguyên nhân quan trọng góp phần cải thiện cán cân vốn và tài chính.

Nhờ nguồn vốn vào khá ổn định và theo xu hướng cải thiện trong 9 tháng đầu năm. Chỉ tính riêng trong 7 tháng đầu năm 2011 cán cân vốn và tài chính thặng dư 9,8 tỷ USD, tăng hơn gấp 2 lần mức thặng dư 4,57 tỷ USD của cùng kỳ năm 2010. 

Thêm đà cho giảm lãi suất


Sau “cơn sóng” giảm lãi suất hồi đầu tháng 9, các ngân hàng tiếp tục bung ra các chương trình giảm lãi suất mới với quy mô lớn hơn, lãi suất sâu hơn, thậm chí mở rộng cả đối tượng cho vay.


Mới đây, VIB đã dành thêm 5.000 tỷ đồng cho vay lãi suất từ 17,5%/năm. Gói tín dụng này VIB tập trung cho các doanh nghiệp xuất khẩu và sản xuất hàng chuẩn bị cho thị trường Tết cuối năm như lương thực, thực phẩm thiết yếu trong nước.

Cụ thể, VIB sẽ dành 3.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp xuất khẩu ngành gạo, thủy sản, dệt may, cà phê; 2.000 tỷ đồng cho vay doanh nghiệp sản xuất lương thực, thực phẩm trong nước để chuẩn bị cho thị trường Tết cuối năm.

Các khoản vay có mục đích giải ngân là vốn lưu động, thời hạn cho vay tối đa 6 tháng và chỉ áp dụng đối với những khoản vay mới.

Trong khi đó, lãi suất thấp nhất phải kể đến OceanBank đang cho vay với 16%. Đây có thể xem là lãi suất thấp nhất trên thị trường hiện nay cho vay các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, xuất khẩu và sản xuất kinh doanh khác.



Lãi suất cho vay tối thiểu này được OceanBank áp dụng cho lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu. Bên cạnh đó, ngân hang vẫn tiếp tục thực hiện gói chính sách ưu đãi cho khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), mức giảm lãi suất từ 1 - 3%/năm và nhiều ưu đãi về phí đối với các dịch vụ ngân hàng như tài khoản thanh toán, thanh toán quốc tế, bảo lãnh ngân hàng.

Vietcombank chính thức dành thêm 4.000 tỷ đồng cho vay ưu đãi bổ sung kế hoạch phát triển tín dụng năm 2011, trong đó 3.000 tỷ đồng dành cho lĩnh vực xuất khẩu thủy sản và 1.000 tỷ đồng dành cho lĩnh vực xuất khẩu gỗ, với mức lãi suất cho vay ưu đãi từ 16%/năm, tùy theo từng đối tượng khách hàng.

Theo đó, doanh nghiệp sẽ được tài trợ vốn lưu động và/hoặc tài trợ thương mại để thực hiện các hoạt động mua hàng hóa, nguyên liệu phục vụ sản xuất, chế biến mặt hàng gỗ và thủy sản để xuất khẩu trực tiếp.

SHB cũng thông báo sẽ bắt đầu cho vay cho vay các DNVVN qua dự án SMEFP. Dự án giúp các NHTM cải thiện hỗ trợ tài chính cho các DN vừa và nhỏ tiếp cận khoản vay trung và dài hạn tại các NHTM nhằm mục đích mua máy móc, thiết bị, xây dựng nhà xưởng mở rộng sản xuất kinh doanh với lãi suất ưu đãi.

Trong khi đó, Eximbank đã có bước đi táo bạo khi quyết định dành 1.000 tỷ đồng cho vay khách hàng cá nhân với 18,5%/năm vào dịp cuối năm. Đối tượng được tài trợ vốn là các cá nhân có nhu cầu vay vốn bổ sung vốn lưu động, vốn đầu tư hay mở rộng sản xuất kinh doanh phát triển hoạt động. Tài sản đảm bảo là bất động sản đô thị, bất động sản để tại nông thôn, số tiết kiệm tiền gửi do Eximbank phát hành, trái phiếu chính phủ, thẻ tiết kiệm ngân hàng khác phát hành.

Trao đổi về khả năng giảm lãi suất tiếp trong những tháng cuối năm, ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng giám đốc Techcombank cho rằng, với đà lạm phát hiện nay thì thuận lợi cho việc giảm lãi suất. Lãi suất sẽ giảm dần do đầu vào thoát khỏi sự cạnh tranh vô lối. Sự ổn định huy động vốn sẽ làm cho chi phí giảm dần, lãi suất cho vay sẽ giảm. Tất nhiên, sẽ không có chuyện giảm ào ạt cho tất cả mà các ngân hàng sẽ hướng đến tính hiệu quả. Và vì thế, các DN thuộc khối sản xuất sẽ có nhiều cơ hội nếu đảm bảo các điều kiện tiếp cận vốn. 

Nới 'vòng kim cô' tín dụng nhóm phi sản xuất


Thông báo mới nhất từ NHNN, sau cuộc họp với 12 ngân hàng lớn chiều 4/10, các bên liên quan đã thống nhất tiếp tục chấn chỉnh kỷ luật lãi suất, bình ổn ngoại tệ; giảm lãi suất cho vay... Đặc biệt, sẽ đưa một số đối tượng ra khỏi nhóm phi sản xuất.


Kiểm soát cho vay ngoại tệ

Tại cuộc họp, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình và lãnh đạo các ngân hàng thương mại đã thống nhất sẽ tiếp tục kiểm soát chặt chẽ việc cho vay bằng ngoại tệ, giảm quy mô và tốc độ phù hợp với khả năng huy động vốn bằng ngoại tệ trên thị trường và các nguồn vốn ổn định lâu dài từ nước ngoài.

Đồng thời, sẽ kiểm soát chặt chẽ đối với trường hợp vay vốn bằng ngoại tệ để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng không có nguồn thu bằng ngoại tệ từ sản xuất, kinh doanh để trả nợ vay.

Các bên cũng thống nhất từng bước thực hiện tốt chủ trương chuyển dần quan hệ nhận gửi và cho vay bằng ngoại tệ sang quan hệ mua bán ngoại tệ để giảm tình trạng đô-la hóa trong nền kinh tế.

Lãnh đạo NHNN lưu ý, việc sử dụng nguồn vốn nước ngoài để mở rộng cho vay bằng ngoại tệ sẽ tăng rủi ro thanh khoản.

Nói về định hướng điều hành tỷ giá cuối năm, cơ quan này tiếp tục khẳng định sẽ đánh giá đúng quan hệ cung cầu của nền kinh tế để điều hành tỷ giá và mức độ can thiệp của NHNN một cách thích ứng, đảm bảo mức độ biến động của tỷ giá không quá 1% từ nay đến cuối năm và đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế.

Hơn nữa, sẽ kịp thời có giải pháp đủ hiệu lực và khả năng cần thiết làm giảm đến mức tối đa chênh lệch giữa giá vàng trong nước với quốc tế, chống đầu cơ vàng và tác động ảnh hưởng đến thị trường ngoại tệ và tỉ giá.


Lĩnh vực bất động sản đang đói vốn.


Đối với thực thi kỷ luật lãi suất, lãnh đạo các ngân hàng và NHNN cho rằng, hầu hết các NHTM đã thực hiện nghiêm túc quy định về trần lãi suất huy động bằng VND và ngoại tệ, trường hợp vi phạm đã được phát hiện và xử lý kịp thời.

Huy động vốn và tín dụng 20 ngày đầu tháng 9 giảm nhưng đã có biểu hiện tăng trở lại từ ngày 23/9/2011. Ngân hàng Nhà nước lưu ý, thời gian tới, việc nguồn vốn huy động VND giảm sẽ ảnh hưởng đến thanh khoản của một số TCTD.

Vì thế, cơ quan này cho hay sẽ giám sát chặt chẽ tình hình thanh khoản của thị trường, chủ động phát hiện các TCTD có biểu hiện hay nguy cơ mất khả năng thanh khoản để có biện pháp xử lý kịp thời, không để bất kỳ ngân hàng nào mất khả năng thanh khoản.

Trước tình trạng một số ngân hàng áp dụng các hình thức khuyến mại đối với các khoản tiền gửi cộng mức lãi suất tiền gửi đã vượt trần cho phép, các ngân hàng lớn tại cuộc họp cho rằng, NHNN cần ban hành ngay văn bản quán triệt việc chấp hành nghiêm túc quy định, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra. Nếu phát hiện ngân hàng nào có biểu hiện về tình trạng trên sẽ xử lý nghiêm. Phát động toàn hệ thống đấu tranh với hành vi cạnh tranh không lành mạnh vượt trần lãi suất huy động dưới mọi hình thức.

Giảm lãi suất, nới cho vay tín dụng

Đối với lãi suất cho vay, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục khẳng định kiểm soát nghiêm tăng trưởng tín dụng dưới 20% theo hướng không nhất thiết phải sử dụng hết dư địa tăng trưởng tín dụng còn lại, ưu tiên và tập trung vốn với lãi suất hợp lý cho nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp phụ trợ. Kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, nợ xấu. Đảm bảo cơ cấu lãi suất điều hành của NHNN phù hợp.

Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại cũng đã thống nhất sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp để đưa mặt bằng lãi suất cho vay trong biên độ 17-19% đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường.

Các TCTD sẽ thường xuyên theo dõi, điều hoà vốn, đảm bảo thanh khoản trong hệ thống; có phương án cân đối vốn để đáp ứng các nhu cầu thanh toán trong những tháng cuối năm; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ về chất lượng tín dụng để kiểm soát nợ xấu.

Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước đang cùng các bộ, ngành liên quan khẩn trương nghiên cứu, rà soát để công bố một số đối tượng, lĩnh vực phục vụ an sinh xã hội không nằm trong danh mục các ngành phi sản xuất, tạo điều kiện về lãi suất cho vay.

Nếu điều này thành hiện thực thì nhiều nhóm đối tượng sẽ thoát khỏ "vòng kim cô" phi sản xuất để tiếp tục được vay vốn. Những DN và đối tượng trông chờ nhất từ tín hiệu này chính là khu vực bất động sản - vốn đã có nhiều ý kiến về việc phân biệt sản xuất và phi sản xuất. Bộ Xây dựng cũng nhiều lần có ý kiến về vấn đề này để bơm vốn cho một số phân khúc bất động sản cần thiết.

Năm 2012 đặt mục tiêu thu hút khoảng 17 tỷ USD vốn FDI




Một tín hiệu tích cực đối với dòng vốn FDI đó là, các dự án trong lĩnh vực bất động sản, dịch vụ đã giảm đi đáng kể, thay vào đó là các dự án trong lĩnh vực công nghiệp, chế tạo.


9 tháng đầu năm 2011, Việt Nam thu hút được 9,89 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, bằng 72% so với cùng kỳ, và rất có thể Việt Nam sẽ không đạt được mục tiêu thu hút khoảng 20 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài trong năm 2011.


Trước tính hình đó, nhiều chuyên gia cho rằng môi trường đầu tư tại Việt Nam đã kém hấp dẫn, hoặc Việt Nam đang thiếu sự liên kết trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài… Để làm rõ hơn vấn đề này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ông Đỗ Nhất Hoàng - Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài.



Ông đánh giá như thế nào về dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong 9 tháng đầu năm?



Theo kết quả của 9 tháng đầu năm thì đúng là dòng vốn FDI vào Việt Nam đã có dấu hiệu chững lại, vì thế từ nay đến cuối năm có khả năng chúng ta sẽ không đạt được mục tiêu thu hút 20 tỷ USD vốn FDI như đã đặt ra ban đầu.



Tuy nhiên, không vì thế mà chúng ta có cái nhìn thiếu lạc quan về dòng vốn FDI vào Việt Nam trong năm 2011. Bởi mặc dù vốn đăng ký chỉ đạt 72% so với cùng kỳ, nhưng vốn giải ngân lại tăng 2% so với cùng kỳ, điều này chứng tỏ rằng dòng vốn FDI vào Việt Nam đang đi đúng hướng và ngày càng chất lượng hơn. Các dự án FDI vào Việt Nam trong 9 tháng qua cũng là những dự án có đủ tiềm lực và khả năng thực hiện.



Một tín hiệu tích cực nữa đối với dòng vốn FDI đó là, các dự án trong lĩnh vực bất động sản, dịch vụ đã giảm đi đáng kể, thay vào đó là các dự án trong lĩnh vực công nghiệp, chế tạo luôn đứng ở mức cao, chiếm đến 50% tổng dự án đăng ký. Đây mới chính là con số bền vững, và đáng được quan tâm.



Nhiều ý kiến cho rằng môi trường đầu tư tại Việt Nam đã bắt đầu kém hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài, do cơ sở hạ tầng, và chất lượng nguồn nhân lực chưa đủ “tầm” để đáp ứng, ông nghĩ sao về nhận định này?



Về quan điểm này Cục Đầu tư nước ngoài và các bộ ngành liên quan cũng đang xem xét thì thấy rằng điều đó là chưa đúng. Vì trên thực tế thời gian vừa qua vẫn có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến tìm hiểu môi trường đầu tư tại Việt Nam trong một số lĩnh vực công nghệ cao như sản xuất pin năng lượng mặt trời và các nhà đầu tư Nhật Bản cũng rất quan tâm đến những lĩnh vực công nghiệp phụ trợ, cơ sở hạ tầng,… Điều đó cho thấy môi trường đầu tư tại Việt Nam vẫn hấp dẫn các nhà đầu tư.



Tuy nhiên, thời gian qua tình hình thu hút đầu tư vào Việt Nam vẫn chưa có sự cải thiện là do các nhà đầu tư họ cần thêm một thời gian, quá trình để chuẩn bị. Và chúng tôi vẫn tin tưởng rằng trong năm tới tình hình thu hút FDI vào Việt Nam sẽ được cải thiện.



Vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 1617/CT-TTg về việc tăng cường thực hiện và chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới. Cục Đầu tư nước ngoài sẽ làm gì để thực hiện Chỉ thị này, thưa ông?



Hiện chúng tôi đang tiến hành thanh tra, kiểm tra các dự án FDI liên quan đến lĩnh vực bất động sản. Qua đó, nếu dự án nào không đủ khả năng, hoặc không hiệu quả sẽ bị rút giấy phép đầu tư hoặc đề xuất các cơ quan liên quan can thiệp. Một số dự án chưa được triển khai do nhà đầu tư có những lý do chính đáng sẽ được các cơ quan chức năng xem xét và tìm cách tháo gỡ. Ngoài ra, để đảm bảo an ninh năng lượng, thời gian tới chúng tôi cũng lên kế hoạch rà soát lại các dự án FDI liên quan đến các lĩnh vực sắt thép, xi măng, và có biện pháp chấn chỉnh, vì đây là những dự án tiêu tốn nhiều năng lượng.

Xin ông cho biết kế hoạch thu hút và giải ngân nguồn vốn FDI năm 2012?

Căn cứ vào tình hình thu hút vốn FDI năm 2011, năm 2012 chúng tôi đặt mục tiêu thu hút khoảng 17 tỷ USD vốn FDI, và số vốn giải ngân là khoảng từ 9-11 tỷ USD./.

Tàu triệu đô được bán với giá bèo




Nhiều doanh nghiệp (DN) vận tải biển đang lâm vào cảnh thua lỗ phải bán tháo đội tàu hàng chục triệu USD với giá rẻ.

Ông Nguyễn Thành Niên, chủ một hãng tàu biển ở Hải Phòng, cho biết: “Số lượng hàng hóa vận chuyển ngày càng ít trong khi chi phí phát sinh tăng cao nên hầu hết các hãng tàu VN đều rơi vào tình trạng thua lỗ. Để giải quyết các khoản nợ vay và lãi suất ngân hàng, hầu hết các DN vận tải biển sử dụng phương án bán tàu để bù lỗ”.

Bán để bù lỗ

Theo số liệu thống kê của Cục Hàng hải VN, hiện đội tàu biển VN có hơn 1.880 chiếc với tổng trọng tải xấp xỉ 8,4 triệu tấn (đứng thứ 4/10 trong khối các nước Asean). Trong đó, chỉ có hơn 400 tàu biển chạy các tuyến hàng hải quốc tế, còn phần lớn khai thác tuyến trong nước.

Trong thời kỳ phát triển, các đại gia vận tải biển đã chi hàng chục triệu USD để mua một loạt các tàu trọng tải lớn, chạy tuyến quốc tế. Riêng VINASHIP đã ký hợp đồng mua nhiều tàu lớn như Hà Nam, Hà Đông, Hà Tiên, Chương Dương, Mỹ Hưng… Đội tàu của VINASHIP được đánh giá là một trong những đội tàu mạnh của khu vực và chiếm lĩnh phần lớn thị phần vận tải biển VN. Từ cuối năm 2009, ngành vận tải biển bước vào thời kỳ “thoái trào”, lại gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt của các hãng tàu ngoại như Maesk, CMA, Hapag-Lloyd... Một thành viên của Hiệp hội Chủ tàu VN cho hay nếu như trong giai đoạn 2003-2007, các DN vận tải biển “đua” nhau sắm tàu biển trọng tải lớn thì đến cuối năm 2010 đã đồng loạt rao bán tàu.

Theo báo cáo tài chính của Công ty CP Vận tải Biển VN (Vosco), cuối năm 2010, DN này rao bán ba chiếc tàu, đến giữa năm 2011 tiếp tục bán thêm một tàu nữa. Các khoản thu từ việc bán tàu đã giúp DN duy trì mức tăng trưởng nhưng thấp hơn so với giai đoạn đầu năm 2010.

Cũng chung tình trạng trên, Công ty CP Vận tải và Thuê tàu Biển VN Vitranschart (JSC) quyết định bán tàu Phương Đông I với giá 58 tỉ đồng và tàu Phương Đông 3 với giá hơn 2,8 triệu USD để bù vào các khoản thua lỗ. Công ty CP Vận tải Xăng dầu Đường thủy (Petrolimex) và Công ty CP Hợp tác lao động với nước ngoài (ILC) cũng lần lượt rao bán các tàu Phú Xuân 01 và Inlaco Glory 2. Mới đây, Tổng Công ty Hàng hải VN (Vinalines) cũng vừa đề nghị rao bán đội tàu cũ chuyển từ Vinashinlines sang gồm các tàu: Lash Sông Gianh, tàu Vinashin Atlantic để bù lỗ.

Nguy cơ mất thị phần vào tay tàu ngoại

Tổng Thư ký Hiệp hội Giao nhận kho vận VN Nguyễn Hùng cho biết hiện đội tàu biển VN đang bị “lép vế” trước các đội tàu nước ngoài có sức mạnh tài chính dồi dào và kinh nghiệm hoạt động hàng hải nhiều năm. Ông Hùng nói: “Mặc dù khối lượng hàng xuất, nhập khẩu của VN không ngừng tăng cao trong những năm qua nhưng đội tàu container của VN chỉ chiếm lĩnh được 20% thị phần vận tải. Nguyên do các tàu này đã quá già, tải trọng thấp, phần lớn làm nhiệm vụ gom hàng chuyên chở đến các tàu mẹ neo tại cảng lớn ở Singapore, Hong Kong, Macao…”. Ông Đỗ Xuân Quỳnh, Tổng Thư ký Hiệp hội Chủ tàu VN, nhận định: “Hiện các công ty vận tải lần lượt thanh lý tàu già để giảm bớt áp lực về tài chính. Tuy nhiên, nếu rao bán hàng loạt mà không đầu tư sắm mới thì sẽ khiến năng lực của đội tàu VN giảm sút, rất khó phục hồi. DN vừa muốn cạnh tranh với tàu ngoại nhưng lại không muốn bị thua lỗ nên việc ổn định đội tàu biển sẽ rất khó khăn”.

Theo một chuyên gia kinh tế, việc bán tháo các tàu biển chỉ là phương án “dập lửa” trước mắt, không thể duy trì lợi nhuận của DN. Báo cáo của Công ty CP Vận tải Biển VN Vosco cho thấy trong khoảng cuối năm 2010, công ty này từng thanh lý nhiều tàu biển trong tổng số 28 chiếc thuộc đội tàu nhằm tiếp tục đạt mức tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên, việc đầu tư đóng mới chậm hơn so với việc bán tàu khiến hoạt động của DN bị ảnh hưởng. Trong năm 2011, Vosco lần lượt rao bán hai tàu Vĩnh Long và Sông Tiền đồng thời có kế hoạch sắm tàu mới nhưng không thực hiện được vì khó khăn về tài chính. Tương tự Vitranschart cũng rao bán các tàu cũ để mua tàu mới song cũng không thực hiện được như kế hoạch. Dự kiến trong quý III-2011, công ty này sẽ đầu tư mua một tàu Handysize để đưa vào khai thác nhưng đến thời điểm hiện tại vẫn chưa thực hiện được.



Cần có biện pháp hỗ trợ các chủ tàu VN đủ sức cạnh tranh với các đội tàu ngoại, tránh trường hợp DN thua lỗ phải bán tàu. Việc gia hạn các khoản vay và hỗ trợ lãi suất ưu đãi cho các DN vận tải biển là điều cần thiết để chủ tàu có đủ năng lực tài chính vượt qua khủng hoảng. Phát triển kinh tế biển phải gắn liền với sự phát triển của đội tàu trong nước. Trong khi thực tế đội tàu biển VN chỉ nắm xấp xỉ 5% thị phần vận tải biển VN, số còn lại nằm trong tay các hãng tàu lớn nước ngoài .

Ông Đỗ XUÂN QUỲNH, Tổng Thư ký Hiệp hội Chủ tàu VN

www.DiaocNiemtin.com
Theo Pháp luật TP.HCM

Bất động sản đang ‘hút’ tiền





Thị trường bất động sản bắt đầu vui trở lại nhờ được trợ lực từ việc lãi suất, lạm phát giảm...

Dòng vốn đang có tín hiệu tìm về với BĐS khi số lượng các dự án mở bán ở khu vực phía Nam bắt đầu tăng mạnh, người có nhu cầu thực và đầu tư cũng đang chạy khắp nơi tìm sản phẩm vừa ý.
Giới doanh nghiệp địa ốc khu vực phía Nam đã lạc quan trở lại khi nhiều tín hiệu vui “trợ lực” cho thị trường bất động sản được phát đi. Trong đó, đáng quan tâm là lãi suất giảm nhiệt và các nhà băng đã mở hầu bao trở lại. Cùng với đó lãi suất đầu không còn bị các ngân hàng chạy đua nâng cao, giá vàng cũng có dấu hiệu ổn hơn khiến nhà đầu tư yên tâm trở lại với địa ốc.

Sàn giao dịch đã bận hơn

Ấn tượng nhất là đợt mở bán dự án của một công ty ở Bình Dương cuối tháng 9 vừa qua với một khách hàng vác cả bao tiền mua liền một lúc 20 nền. Anh Bùi Xuân Huy (ở đường Lê Thánh Tôn, quận 1, TP HCM), vị khách hàng gây sốc trên, cho hay, mình là nhà đầu tư. Năm 2007 đã trúng lớn từ thị trường bất động sản Bình Dương, sau khi thị trường tuột dốc, anh cố thủ một thời gian và thời điểm này không còn gì ngăn anh quay trở lại thị trường. Anh Huy cho rằng, đây là thời điểm tốt để giải ngân và hy vọng khoản đầu tư này sẽ đem lại lợi nhuận lớn hơn cả giai đoạn hoàng kim năm 2007.

Chị Yến, ngụ quận Bình Thạnh, TP HCM, cũng cho biết, đang ráo riết mua căn hộ với giá khoảng 20 triệu đồng một m2. Theo tính toán của chị, lúc này mua nhà tại dự án đang giao nhà thì tốt hơn, bởi chị muốn “chốt” cho nhanh vì “trong quá trình tìm mua, nhận thấy thị trường bắt đầu ấm lên, khách tìm mua đông hơn nên một số sàn giao dịch đã giảm bớt ưu đãi cho khách. Nếu không mua thời điểm này sẽ khó tìm được mức giá tốt và sự dễ thở của thị trường thời gian tới.

Ông Hoàng Anh Tuấn, Tổng giám đốc Công ty Tấc Đất Tấc Vàng, nhận xét, không khí “vui vẻ” đã trở lại với thị trường bất động sản khi mà lượng khách hàng, nhà đầu tư bắt đầu quay lại thị trường. Những người có nhu cầu về nhà ở cũng ráo rác đi mua nhà, đất. Thông tin từ các sàn giao dịch bất động sản cũng cho thấy, thời gian gần đây, lượng khách hàng đến giao dịch tăng khá nhiều. Nhân viên nhiều sàn giao dịch bất động sản đã bận rộn trở lại, chứ không con ngồi chơi như trước.

Mạnh tay tung hàng

Dự cảm được những tín hiệu tốt ảnh hưởng đến thị trường, thời gian gần đây, các doanh nghiệp bất động sản đã mạnh tay mở bán hàng loạt dự án để đón sóng, nhất là các dự án tại các khu vực ven TP HCM. Như tại Bình Dương có tới 6 dự án căn hộ, đất nền mở bán. Tại Long An cũng có 5 dự án mở bán. Còn Đồng Nai không thua kém khi hàng loạt dự án tung ra cùng lúc thu hút sự quan tâm của khách hàng cá nhân. Tại TP HCM, rất nhiều dự án cũng đã được mở bán trở lại sau thời gian dài.

Theo nhận định của các chuyên gia tài chính, những bất ổn của nền kinh tế, cộng với lạm phát tăng mạnh, giá vàng nóng thời gian qua đã khiến nhiều người chọn vàng để trú ẩn. Tuy nhiên, việc thị trường vàng thời gian gần đây lao dốc đã khiến nhiều nhà đầu tư vàng bán chốt lời, từ đó một nguồn tiền lớn từ thị trường này đã vào bất động sản. Thời gian này, bất động sản lại được người dân, nhà đầu tư xem đây là khoản… để dành an toàn xét trong thời gian dài hạn.

Ông Phạm Văn Hải, Tổng giám đốc Công ty Địa ốc ACBR, đánh giá lãi suất ngân hàng đang giảm, người gửi tiền vào ngân hàng không còn hiệu quả nên bắt đầu rút ra để quay lại bất động sản. “Số lượng khách hàng đến sàn tìm hiểu dự án đã tăng. Kênh địa ốc lâu nay đứng im, giờ có dấu hiệu tốt sẽ kích thích khách hàng quay trở lại”, ông Hải kỳ vọng.

Tuy nhiên, ông Hải cũng thừa nhận, thị trường còn nhiều khó khăn do chưa có nhiều dự án mới, giá cả chưa được tốt so với túi tiền của đại đa số người dân. Chung cư kiện tụng nên khách hàng ngại. Đất nền góp vốn đầu tư bị buộc xây nhà, trong khi đất có sổ đỏ thì giá đắt… Nếu giải quyết được những cản trở này, thì thị trường bất động sản sẽ có đà hồi phục vững chắc. Và nếu những tín hiệu thị trường bắt đầu ổn lên như hiện nay, thị trường địa ốc có thể phục hồi vào đầu năm 2012.

www.DiaocNiemtin.com
Theo ĐVO

Thị trường bất động sản: Sắp qua thời “nằm im thở khẽ”




Những thay đổi tích cực như giảm lãi suất cho vay tại các hệ thống ngân hàng hay chỉ số giá tiêu dùng những tháng vừa qua có xu hướng giảm... là dấu hiệu hạ nhiệt của lạm phát. Theo nhận định của các chuyên gia trong ngành, điều này đồng nghĩa với việc thị trường bất động sản sẽ hồi phục trở lại, chậm nhất cũng chỉ đầu năm 2012.

Giao dịch bắt đầu "ấm” dần

Khảo sát một số điểm trên địa bàn Hà Nội cho thấy, chừng một tháng trở lại đây, nhiều dự án bất động sản, căn hộ chung cư sau một thời gian dài "ngắc ngoải” nay bỗng "ấm” trở lại. Chị Lê Thị Bình - một chủ đầu tư bất động sản cho biết, chị có một căn hộ 80m2 ở khu chung cư N4 (Trung Hòa, Nhân Chính) sau nhiều tháng ròng rao bán với giá 33 triệu đồng/m2 chẳng ai hỏi thăm, nay chị nhận được liên tiếp những lời đề nghị "nóng sốt” sẵn sàng mua căn hộ của chị với giá 37 triệu đồng/m2. Anh Nguyễn Minh Tuấn, ở phố Giảng Võ, Hà Nội, sau một thời gian dài "nằm im thở khẽ” vì lo thị trường bất động sản đóng băng không thể hồi phục lại, nay đã có thể thở phào nhẹ nhõm khi cho biết, căn hộ anh định bán ở khu tập thể Giảng Võ gần đây có khá nhiều người tới hỏi thăm, trong khi trước đó, anh lo sốt vó vì rao giá trên mạng mấy tháng trời không có ai đoái hoài.

Cùng với đó, một loạt các "đại gia” bất động sản cũng bắt đầu le lói tín hiệu trở lại với thị trường này. Savills Việt Nam cho biết, Công ty vừa chính thức được bổ nhiệm làm Đại lý Tư vấn tiếp thị và Đại diện Bán độc quyền cho dự án Hòa Bình Green City do Công ty Cổ phần nông sản Agrexim và Công ty TNHH Hòa Bình làm chủ đầu tư. Savills cho biết, Công ty sẽ đưa ra thị trường dự án nói trên ngay trong tháng 10 này. Tương tự, Công ty TNHH Phát triển Công nghệ (CFTD) cũng vừa công bố sẽ chào bán chính thức căn hộ dự án Star Tower ngay ngày 7-10 tới đây.

Không chỉ có vậy, thị trường này còn đón nhận sự thăm viếng của một số tập đoàn, quỹ đầu tư lớn của Mỹ và châu Á khi họ vừa sang Việt Nam để tìm kiếm cơ hội đầu tư vào một số lĩnh vực, trong đó có bất động sản. Những động thái mới mẻ trên của thị trường bất động sản cho thấy thị trường này đang "ấm” dần lên, giao dịch bắt đầu tăng trở lại, đặc biệt là các phân khúc bình dân. Theo một chuyên gia, những giao dịch hầu như tập trung vào những người có nhu cầu nhà ở thực sự, còn phân khúc biệt thự, dòng vốn đầu tư vào các phân khúc cao cấp chiếm tỷ lệ thấp.




Với đà tăng dân số như hiện nay, quỹ đất cứ hẹp dần
thì nhu cầu nhà ở của người dân chưa bao giờ "giảm nhiệt”

Kỳ vọng cởi bỏ nút thắt của chính sách

Như vậy, đúng như dự báo của các chuyên gia, thị trường bất động sản sẽ không thể đóng băng mãi. Bởi trên thực tế, với đà tăng dân số như hiện nay, quỹ đất cứ hẹp dần thì nhu cầu nhà ở của người dân chưa bao giờ "giảm nhiệt”. Nói như Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam; "Nhu cầu và nguyện vọng có nhà ở phù hợp của người dân là rất lớn. Bất động sản vẫn luôn là một thị trường thu hút sự quan tâm đầu tư hàng đầu của các nhà đầu tư trong và ngoài nước”.

Tất nhiên, "tảng băng lớn” trên thị trường này đang tan dần không thể không nhắc đến những tín hiệu khả quan từ việc nới lỏng chính sách trên thị trường tiền tệ, cụ thể là lãi suất cho vay đã dần hạ nhiệt kể từ đầu tháng 9 vừa qua. TS. Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia đánh giá: "Cùng với việc lãi suất hạ nhiệt, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) những tháng vừa qua cũng có xu hướng giảm. Đây là 2 yếu tố cho thấy có hy vọng lạm phát giảm. Nếu lạm phát được đẩy lùi, từ đầu năm 2012, thị trường địa ốc sẽ dần hồi phục”.

Tuy nhiên, để thị trường này thực sự hồi phục, phần lớn các chuyên gia trong ngành cho rằng, Chính phủ không nên siết quá chặt lĩnh vực này như thời gian vừa qua, sự thắt nút ấy vô hình trung đã khiến các lĩnh vực khác cũng bị "bóp nghẹt” như vật liệu xây dựng, nội thất, giải quyết công ăn việc làm cho khá nhiều lao động nông nhàn... Bởi vậy, dù đồng tình với việc siết chặt tín dụng phi sản xuất của Chính phủ, song chuyên gia tài chính – ngân hàng Nguyễn Chí Hiếu vẫn đề xuất, cần phải có sự bình đẳng, khách quan khi xem xét tín dụng bất động sản. Tỷ trọng cho vay không thay đổi nhưng trong đó các danh mục và phân khúc của bất động sản như nhà thu nhập thấp, nhà ở cán bộ, tái định cư, khu công nghiệp cần phải được tiếp tục cho vay vì đây là những lĩnh vực gắn liền với an sinh, xã hội hiện nay.

Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Cao Sỹ Kiêm cũng ủng hộ mở tín dụng đối với dự án nhà thu nhập thấp, bởi theo ông: "Không thể cào bằng các dự án nhà cho người thu nhập thấp với chứng khoán hay dự án bất động sản khác. Tuy nhiên, cũng cần có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, rõ ràng và công khai để dân kiểm soát vì nếu "mở” quá thì chắc chắn tác động không tốt tới lạm phát”.
www.DiaocNiemtin.com
Theo Đại Đoàn Kế

‘Tổng tấn công’ dẹp loạn thị trường vàng


Một nhóm ngân hàng cùng NHNN và Công ty SJC vừa họp bàn đề xuất thành lập quỹ 20 tấn vàng nhằm bình ổn thị trường. Nhưng ai sẽ đóng góp vào quỹ khổng lồ đó và cơ chế điều hành quỹ thế nào cho hiệu quả vẫn là một dấu hỏi.


Dùng nội lực phản ứng nhanh

Trong đề xuất mới đây của nhà sản xuất và kinh doanh vàng miếng lớn nhất cả nước - SJC cùng các ngân hàng cho rằng, sẽ tạo ra một quỹ vàng để có thể can thiệp và bình ổn giá vàng khi cần thiết. Quỹ này do chính các DN và ngân hàng lập ra nhưng hành động theo sự điều hành của Ngân hàng Nhà nước.

Cụ thể, sẽ hình thành một quỹ vàng khoảng 20 tấn sẽ được góp từ nguồn vàng tự có của SJC cùng vàng từ huy động vốn bằng vàng của các doanh nghiệp. Khi giá vàng tăng cao bất thường, nhóm các ngân hàng và SJC dùng số vàng từ quỹ này để bán ra thị trường nhằm duy trì giá vàng trong nước chỉ nhỉnh hơn giá vàng thế giới. Và ngược lại, khi giá vàng giảm thì sẽ mua vào để cân bằng quỹ, dự phòng cho những lần can thiệp tiếp theo.

Theo các DN, số vàng 20 tấn tương đương 530.000 lượng là rất lớn, khi bung ra thì khó có một tổ chức nào có thể đủ sức trụ lại để làm giá. Đặc biệt hơn, vàng này chủ yếu huy động trong nước, hạn chế nhập khẩu tốn kém và gây áp lực lên tỷ giá như hiện nay.

Đi cùng với đề xuất này, các DN cũng xin điều chỉnh hai chính sách: cho phép một số ngân hàng được kinh doanh vàng trên tài khoản nhằm kịp thời cân bằng được số lượng vàng mua vào bán ra để tránh rủi ro; cho phép bán một phần vốn vàng huy động được để can thiệp thị trường.




Trước những đề xuất này, dù chưa có phản ứng chính thức nhưng thông tin từ phía Ngân hàng Nhà nước cho thấy, khả năng mở lại nghiệp vụ kinh doanh vàng trên tài khoản là gần như chắc chắn và có thể sẽ được thực hiện sớm. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng đang dự định áp trần lãi suất huy động vàng 0,5% để giảm lợi ích, là cho dân giảm găm giữ vàng.

Sức mạnh tập trung

Tham khảo đề xuất mới này, dù chưa có gì cụ thể nhưng nhiều chuyên gia cho rằng, đây là một cách làm mới, hy vọng sẽ tạo ra những đổi mới trong quản lý vàng với hai điểm nổi trội. Thứ nhất là huy động được nguồn vàng trong nước để bình ổn vàng. Thứ hai, với nguồn lực tại chỗ cộng với việc kinh doanh vàng trên tài khoản sẽ giúp các ngân hàng và DN phản ứng nhanh hơn trước các biến động giá trong và ngoài nước.

Những con số phỏng đoán gần đây cho thấy, số vàng trong dân hiện có không dưới 500 tấn. Đây là một khối tài sản tài chính lớn đã không được huy động và kiểm soát tốt nên thay vì tạo ra nguồn lực cho phát triển thì không ít lần nó gây ra sóng gió trên thị trường mà cụ thể là những cơn sốt vàng bắt nguồn từ nhu cầu mua tích trữ, đầu cơ tăng cao mỗi khi giá biến động và bị giới kinh doanh lợi dụng để làm giá.

Trong những cơn sốt vàng vừa qua có một thực tế là trong khi vàng trong nước không hề thiếu, thậm chí ngày càng được tích trữ nhiều nhưng không được huy động để cân bằng trên thị trường mà vàng vật chất nhập khẩu về lại không đủ cho nhu cầu nên giá vẫn tăng và chênh lệch lớn so với thế giới. Vàng nội địa nhiều nhưng vẫn thiếu cho nhu cầu và liên tiếp phải nhập khẩu

Kể cả khi vàng lên giá hay xuống giá, nguồn vàng hiện nay đều trông chờ vào nhập khẩu vàng vật chất thông qua giấy phép của Ngân hàng Nhà nước. Điều nay luôn có độ trễ khiến giá cả trong và ngoài nước không liên thông với giá thế giới. Chưa kể, nhập khẩu vàng còn liên quan đến các vấn đề tỷ giá, tiền tệ khác nên số lượng nhập khẩu luôn hạn chế.

Chính điều này đã tạo ra sự lệch pha trên nhiều khía cạnh làm cho thi trường vàng phức tạp và nhiều rủi ro như đã thấy trong thời gian qua.

Nói về điều này, đại diện một DN vàng cho biết, thời gian qua DN để giá chênh lệch cao so với thế giới và thậm chí hạn chế bán ra vì DN luôn phải đảm bảo cân bằng trạng thái vàng trong mỗi ngày.

Trong khi đó, người dân luôn có nhu cầu mua nhiều hơn bán. Vàng nhập về thường bán hết rất nhanh nên nếu không có nguôn cân đối, DN sẽ gặp rủi ro khi giá biến động. Trong khi nguồn vàng bố sung chủ yếu trông chờ vào nhập khẩu mà nhập khẩu như tình trạng trên nên DN luôn phải "thủ thế" để lo cho mình.

Vì thế, nếu có biện pháp huy động được nguồn vàng nội hay còn có thể gọi là nội lực để ổn định thị trường là điều quá tốt. Hơn nữa, khi kinh doanh vàng trên tài khoản được mở trở lại thì càng giúp cho ngân hàng và DN có điều kiện mua bán vàng một cách dễ dàng, để cân đối trạng thái của mình. Chỉ khi nào thực sự cần thiết mới phải nhập. Điều này cho phép chúng ta có nguồn lực và phương pháp để phản ứng nhanh với thị trường vàng mà trước nay chưa làm được.

Như vậy, cơ chế mới sẽ vận động được số vàng đóng băng trong dân thành nguồn lực tham gia điều tiết thị trường. Đồng thời kết nối , khơi thông mối liên hệ giữa giá vàng trong nước với thế giới, chủ động hơn trong bình ổn và quản lý thị trường nhạy cảm này.

Đặc biệt, với cơ chế này, điều hành thị trường vàng sẽ tập trung về đầu mối Ngân hàng Nhà nước, cộng với 20 tấn vàng, có thể coi là một sức mạnh vật chất để cơ quan quản lý có đủ và chính sách và nguồn lực để thực thi sức mạnh quản lý của mình.

Ai sẽ cùng góp 20 tấn vàng?

Có lẽ 20 tấn vàng, nhiều gấp 5 - 10 lần quota nhập khẩu mà Ngân hàng Nhà nước cấp mỗi lần, sẽ đủ sức mạnh để chi phối thị trường. Thậm chí, chỉ cần có quỹ này thì các đối tượng khác trên thị trường cũng phải dè chừng khi hành động.

Tuy nhiên, một chuyên gia từ Bộ Công Thương lại tỏ ra băng khoăn, với 20 tấn vàng, tương đương 1,2 tỷ USD theo thời giá hiện nay đóng vào quỹ là điều không dễ. Cơ chế nào để huy động và quản lý và trước hết ai dám hy sinh quyền lợi để bỏ vàng vào quỹ.

Theo vị chuyên gia này, DN sẽ bỏ vàng vào quỹ nhưng chắc chắn họ phải đòi hỏi tài sản bỏ ra sẽ được đảm bảo trước các rủi ro và không ai muốn để tài sản nằm không trong một 'quỹ công ích". Vậy dù ít hay nhiều, DN cũng phải có thể sinh lời từ việc này, thấp nhất cũng phải trên cón số 0,5% lãi suất huy động vàng đang dự kiến... Như vậy, ai sẽ chịu chi phí này?

Hơn nữa, chẳng ai để quỹ này nằm "cứng" không vận động sinh lời mà phải buộc nó vận động để có phần lợi nhằm chí ít là phục vụ cho sự tồn tại của nó và bù đắp phần nào cho DN. Tuy nhiên, cơ chế đó sẽ như thế nào, và khi cần sẽ tập trung lại ra sao là cả một vấn đề.

Hầu hết các quỹ bình ổn hàng hóa đến nay đều gặp vấn đề rắc rối. Và điều đó sẽ phức tạp hơn khi làm với vàng vì đây là hàng hóa đặc biệt.

Lập quỹ đã khó nhưng vận hành nó không hề đơn giản. Bởi vì cho đến nay các cơ sở pháp lý cho quỹ này ra đời đều mơ hồ. Còn chuyện vận hành thế nào đều chưa có gì cụ thể. Chỉ riêng việc giá vàng thế nào được xem là bất thường và phải can thiệp cũng đã phải cân nhắc. Rồi can thiệp thế nào, thông qua ai và bằng cách nào, phân chia thế nào, hoạch toán lỗ lãi ra sao?

Có lẽ vì thế, mà lãnh đạo một Ngân hàng dù đánh giá cao ý tưởng này thì vẫn cho rằng, còn lâu điều này mới thành hiện thực. Thậm chí, vị lãnh đạo này còn đặt vấn đề, hãy xác định ai làm giá trên thị trường trong thời gian qua và cách làm giá thế nào mới có thể đặt vấn đề trị "làm giá".

Cả nước chí có mấy DN lớn kinh doanh vàng bạc và họ đặt giá hàng ngày thế nào tùy ý mà chưa kiểm soát được thì việc lập quỹ để chống lại làm giá thông qua các DN này là còn xa vời.

Vị lãnh đạo này nhắc lại, từ tháng 8 đến nay, đã tốn mấy trăm triệu USD cho các DN này nhập khẩu vàng về để bình ổn nhưng thực tế vàng không ổn mà giá còn cao. Đến nay, ai được nhập, nhập bao nhiêu và dùng thế nào đều không rõ thì chính sách mới hẳn còn là một dấu hỏi về khả thi và hiệu quả.

Trong khi đó, theo số liệu của thời gian qua, người dân Việt Nam với tâm lý tích trữ vàng cộng với những lo ngại từ bất ổn của kinh tế khi lạm phát tăng cao, đồng tiền mất giá càng có nhu cầu mua vàng nhiều. Trừ một số thời điểm xuất khẩu, còn lại vàng nhập về đều nhanh chóng tiêu thụ hết.

Như vậy, dù có quỹ xoay vòng, kinh doanh vàng trên tài khoản thì việc nhập khẩu vàng vật chất vẫn là một khả năng rất cao. Và khi đó, tất cả lại quay về câu chuyện nhập khẩu, tỷ giá và định giá vàng...

Hơn nữa, liệu người dân có tiếp tục gửi vàng hay lại cất vàng sâu hơn vào đáy két như vẫn làm từ trước đến nay mà không màng đến lợi nhuận bằng gửi vàng, ăn lãi suất như VND hay USD? Còn trông chờ vào vàng tài khoản chỉ là sự cân đối tức thời, muốn có vàng thì vẫn phải nhập.

Như vậy, một chuyên gia đặt vấn đề, bản chất tích trữ vàng ngoài thói quen còn cho thấy người dân có nhu cầu thật về vàng và hơn thế họ đặt niềm tin lớn vào vàng khi sự đồng tiền không ổn định giá trị. Vì thế, vàng đắt và đắt hơn thế giới nhiều triệu đồng họ vẫn mua với mục đích bảo toàn tài sản cho mình. Vị này đặt vấn đề liệu quỹ này có hiệu quả khi người dân chưa có niềm tin vững chắc vào tiền đồng và luôn lựa chọn vàng để đám bảo an toàn.

Nói cách khác, một quỹ bình ổn, các cơ chế khác đều chỉ là tình thế, biện pháp dài hạn vẫn phải tạo sự ổn định, gây dựng niềm tin của dân vào đồng tiền, để từ bỏ dần các tài sản khác như vàng và nguồn tài sản vàng hay USD. Điều đó, sẽ là điều kiện để ổn định thị trường vàng hay USD.

Thực tế cho thấy, chợ USD vẫn họp và giá chợ đen vẫn tăng cao vào cuối năm khi cầu mua tăng lên. Vàng cũng thế, nhu cầu của người dân tăng cao thì 20 tấn vàng bán ra liệu có đủ giải quyết mọi vẫn đề?

'Khủng hoảng kinh tế toàn cầu vì từ bỏ bản vị vàng'




Ông Richard Duncan chuyên nghiên cứu về lĩnh vực khủng hoảng tài chính. Ảnh: Vũ Lê
Chuyên gia khủng hoảng tài chính Richard Duncan (Mỹ) cho rằng nguyên nhân chính gây ra khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay là các quốc gia đã mất kiểm soát khi in tiền giấy và từ bỏ chế độ bản vị vàng.
Sang Việt Nam nói chuyện với sinh viên kinh tế TP HCM, tác giả của cuốn sách “The Dollar Crisis: Causes, Consequences, Cures” - Tiến sĩ Richard Duncan đã có cuộc phỏng vấn riêng với VnExpress về suy thoái kinh tế toàn cầu và tình hình kinh tế Việt Nam.

- Các chuyên gia kinh tế thế giới đều lo ngại tài chính toàn cầu sẽ tiếp tục suy thoái. Còn nhận định của ông?

- Khả năng tiếp tục xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu, cuộc khủng hoảng kép là rất lớn. Tín dụng của Mỹ đã tăng 50 lần so với 50 năm trước, từ 1.000 tỷ USD lên thành 50.000 tỷ USD. Khoản tiền này được bơm ra giúp cho nền kinh tế phát triển mạnh. Tuy nhiên, đến một lúc nào đó, người đi vay không còn khả năng chi trả thì cuộc khủng hoảng sẽ bùng nổ. Hiện nay chính phủ Mỹ vẫn cố gắng bơm tiền vào nền kinh tế nhưng đến một lúc nào đó chính phủ không thể bơm tiền thì khả năng xảy ra suy thoái là rất lớn.

- Theo ông cuộc suy thoái kinh tế hiện nay có gì khác so với năm 2008- 2009? Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng lần này là gì?

- Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009 và cuộc khủng hoảng hiện nay không có sự khác biệt, thậm chí cả hai cuộc khủng hoảng này có thể được xem là sự tiếp nối. Năm 2008-2009, khi khủng hoảng nổ ra, chính phủ Mỹ thấy nền kinh tế có dấu hiệu đi xuống đã bơm tiền ra để nâng đỡ nhưng không hiệu quả. Khủng hoảng hiện nay là giai đoạn hai của cuộc khủng hoảng lần trước.

Cuộc khủng hoảng đáng để so sánh nhất là cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra vào năm 1930 theo sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất năm 1914. Lúc đó, các ngân hàng Mỹ từ bỏ hệ thống tiền tệ được đảm bảo bằng vàng, còn gọi là bản vị vàng. Các ngân hàng bắt đầu in tiền giấy và phát hành ra thị trường. Về mặt lý thuyết, khi nền kinh tế có nhiều tiền sẽ tạo nên sự phát triển vượt bậc. Năm 1929-1930 nền kinh tế Mỹ phát triển rất mạnh mẽ.

Tuy nhiên đến khi người đi vay không còn khả năng chi trả thì nền kinh tế rơi vào cuộc khủng hoảng. Chính phủ Mỹ lúc đó đã không can thiệp vào cuộc khủng hoảng này mà để cho các yếu tố nội tại của thị trường tự chi phối, điều chỉnh và tự phục hồi. Song khi nền kinh tế tạo được sự cân bằng vào năm 1932 thì tổng sản lượng giảm gần 50%.

Cuộc khủng hoảng hiện nay cũng bắt nguồn từ nguyên nhân giống như trước đây, các nước, trong đó có Mỹ tùy tiện in tiền giấy và từ bỏ bản vị vàng. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, đồng USD được gắn với giá trị vàng. Dưới chế độ bản vị vàng, tổ chức phát hành tiền mặt (ở dạng giấy bạc hay tiền xu) cam kết sẵn sàng nhận lại tiền mặt và trả vàng nếu được yêu cầu.

Các chính phủ sử dụng thước đo giá trị cố định này nếu chấp nhận thanh toán cả tiền mặt của chính phủ nước khác bằng vàng sẽ có liên hệ tiền tệ ấn định (lượng tiền mặt lưu hành, tỷ giá quy đổi...), cứ 35 USD quy đổi ra một ounce vàng. Chế độ bản vị vàng là liều thuốc đề kháng được sự bành trướng tín dụng và nợ nần. Một khi đồng tiền được bảo đảm bằng vàng sẽ không cho phép chính phủ tùy tiện in tiền giấy.

Sau đó, chính sách bản vị vàng bị Mỹ bỏ đi và áp dụng chế độ tiền luật định, in tiền nhưng không gắn với giá trị vàng. Chính phủ Mỹ đã liên tục in tiền giấy và bơm ra thị trường để phát triển nền kinh tế dựa vào tín dụng. Năm 1971 hiệp ước Bretton Woods sụp đổ, các nước đã bơm nhiều tiền vào nền kinh tế và dùng chế độ tiền luật định dựa trên tín dụng.

Tuy nhiên, một khi người đi vay không còn khả năng chi trả và chính phủ không đủ sức bơm tiền vào nền kinh tế thì cuộc khủng hoảng nhanh chóng chuyển sang giai đoạn suy thoái.

- Vậy theo ông đâu là nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng?

- Tôi nghĩ rằng nguyên nhân chính là do các nền kinh tế mất kiểm soát trong việc in tiền giấy. Trước đây tiền tương ứng với vàng và được xem như hàng hóa, hết vàng thì không in tiền nữa. Nhưng hiện nay tiền có tính pháp định do nhà nước in ra, không còn là hàng hóa quy đổi từ vàng. Cứ thế, trong vòng 40 năm qua, chính phủ in tiền và bơm vào nền kinh tế. Lâu dần, đến một lúc nào đó cả người đi vay và chính phủ đều mất khả năng kiểm soát.

- Nhiều lo ngại tình hình nợ công của EU và Mỹ sẽ ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu. Quan điểm của ông ra sao?

- Nợ công của châu Âu và Mỹ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó, nguyên nhân chính là chính phủ không có kiểm soát trong vấn đề in tiền và đồng thời cũng không có kiểm soát trong vấn đề vay mượn tiền. Hai yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.

Trước đây tiền gắn liền với vàng nên chính phủ không thể vay được nhiều vì vàng có hạn, do đó người dân cũng không vay được nhiều. Hiện nay chính phủ vay quá nhiều thì lãi suất sẽ bị đẩy lên. Khi lãi suất tăng cao thì nền kinh tế bị giảm sút. Tiền mang tính pháp định nên chính phủ muốn vay bao nhiêu thì vay, vay càng nhiều thì chi tiêu càng nhiều. Điều này tương ứng với câu "Bạo phát thì bạo tàn".

Không kiểm soát trong chi tiêu cũng như trong việc in tiền của chính phủ là nguyên nhân dẫn đến tình hình nợ công gia tăng của các nước châu Âu. Điều này cũng ảnh hưởng rất lớn đến thương mại quốc tế. Nếu tiền được đảm bảo bằng vàng thì Mỹ muốn mua hàng Trung Quốc và trả bằng USD thì phải đảm bảo có tiền trong ngân hàng Trung ương. Lúc nào cần đổi từ tiền USD qua vàng thì phải luôn có sẵn. Một lúc nào đó dùng hết vàng thì chính phủ phải dừng, không mua hàng ngoại được nữa.

Hiện nay thế giới mất đi sự cân bằng về tài chính. Đơn cử Mỹ thâm hụt thương mại với Trung Quốc hàng năm khoảng 250 tỷ USD. Hoặc trường hợp của nước Đức xuất khẩu nhiều hàng hóa sang Trung Quốc để lấy USD về nhưng họ lại cho Hy Lạp mượn để chi tiêu. Nhưng hiện Hy Lạp sụp đổ nên sẽ ảnh hưởng dây chuyền đến Đức lẫn Trung Quốc. Nếu các nền kinh tế vẫn duy trì hệ thống bản vị vàng thì tình trạng hiện nay sẽ không xảy ra. Việc đồng USD đang chạy lòng vòng khắp thế giới và gây ảnh hưởng khủng hoảng domino đến nhiều nước.

- Dòng vốn đầu tư đang có xu hướng dịch chuyển sang các nền kinh tế mới nổi. Theo ông sự dịch chuyển này ảnh hưởng như thế nào đến Việt Nam và các nước trong khu vực?

- Tình trạng hiện nay ở hầu hết các nền kinh tế là cái gì cũng giảm nhưng tỷ lệ thất nghiệp lại tăng cao. Thách thức của Việt Nam và các quốc gia trong khu vực chính là nước Mỹ. Nếu thế giới gặp khó khăn thì Việt Nam cũng gặp khó khăn. Tôi tin tưởng Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội phát triển trong thời gian tới.

Việt Nam mới ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Tôi đã sống và nghiên cứu kinh tế châu Á 20 năm và nhận ra rằng Trung Quốc đã phát triển quá nhanh và hiện nay bắt đầu xuất hiện những bong bóng khổng lồ. Còn Việt Nam chỉ mới ở giai đoạn đầu. Như vậy trong vòng 30 năm nữa Việt Nam mới phát triển như Trung Quốc bây giờ. Đó là lý do tại sao nền kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng.

Dòng vốn dịch chuyển khắp thế giới chứ không chỉ đến châu Á hay các thị trường mới nổi. Không chỉ đến Trung Quốc, Việt Nam... mà vốn cũng chạy đến Mỹ để bù đắp khoản thâm hụt ngân sách của nước này. Nếu nhìn về châu Á thì gần đây vốn FDI đang chảy về Trung Quốc rất nhiều. Điều quan trọng để ngăn ngừa rắc rối là phải kiểm soát được lượng tín dụng. Tín dụng quá nóng, tăng quá nhanh sẽ tạo ra nhiều nguy cơ tiêu cực cho nền kinh tế. Tín dụng tăng 10% một năm đã là quá nhiều. Trước đây tôi từng ở Thái Lan, có lúc tín dụng nước này đã tăng đến 25%.

Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi thu hút dòng vốn đang chảy khắp thế giới vì giàu tài nguyên thiên nhiên, bờ biển dài, hai vùng đồng bằng lớn, có giá nhân công rẻ...



Ông Richard Duncan bắt tay sinh viên Việt Nam. Ảnh: Vũ Lê


- Chuyên nghiên cứu về khủng hoảng tài chính, theo ông các nền kinh tế nên làm gì để vượt qua khủng hoảng? Đâu là điểm cuối của suy thoái kinh tế toàn cầu?

- Theo tôi, nên tăng lương cho người lao động trong các nhà máy, các xưởng sản xuất. Trong thời kỳ đầu của giai đoạn công nghiệp hóa ở châu Âu, lương công nhân rất thấp dù họ làm ra rất nhiều sản phẩm nhưng không có khả năng tài chính tiêu thụ những sản phẩm do họ làm ra. Người dân không thể mua được hàng hóa vì lương quá thấp sẽ khiến cho cung cầu mất cân đối cho nền kinh tế và xảy ra khủng hoảng.

Hiện nay không phải là giai đoạn công nghiệp hóa mà là toàn cầu hóa, có nhiều nền kinh tế mới nổi gây chú ý. Chẳng hạn như Trung Quốc, họ sản xuất hàng hóa nhiều nhưng lương của người dân vẫn thấp, vì vậy cung cầu cũng không gặp nhau và điều tất yếu là sẽ xảy ra khủng hoảng.

Như vậy, chính phủ các nước phải làm sao, trên toàn cầu nói chung, lương của công nhân trong một năm phải tăng ít nhất một USD. Ví dụ hiện nay doanh nghiệp và nhà nước đang trả lương công nhân 5 USD mỗi ngày thì sang năm phải trả cho họ 6 USD một ngày. Thu nhập tăng chính là động lực để những người này tiêu thụ hàng hóa, cung cầu gặp nhau thì nền kinh tế sẽ phát triển ổn định.

Trên bình diện toàn cầu hóa, tăng lương cho công nhân chỉ là một trong số nhiều giải pháp quan trọng để các nền kinh tế vượt qua giai đoạn khủng hoảng. Tùy vào đặc thù riêng của từng quốc gia mà việc điều tiết và cân nhắc các gói giải pháp kha khác sao cho phù hợp. Mỹ, châu Âu hay Trung Quốc tất nhiên đều phải có những giải pháp đặc thù riêng biệt để vượt qua giai đoạn khủng hoảng.

Hiện nay không ai biết kinh tế toàn cầu liệu có rơi vào suy thoái hay không. Kinh tế toàn cầu hiện nay chưa thực sự rơi vào suy thoái nhưng tình trạng khủng hoảng đã rõ rệt. Chính phủ các nước đang tìm cách nâng đỡ nền kinh tế và chưa ai dám đoán liệu đâu là điểm cuối của quá trình này.

- Từng nghiên cứu về tình hình thị trường tài chính châu Á, ông đánh giá như thế nào về thị trường tài chính Việt Nam? Theo ông Việt Nam nên có những giải pháp gì để ứng phó với tình hình không ổn định của thị trường tiền tệ hiện nay?

- Tôi không đứng ở vị trí có thể trả lời các vấn đề liên quan trực tiếp đến Việt Nam. Tuy nhiên, lạm phát nói chung trên thế giới đều có hai nguyên nhân. Thứ nhất là do yếu tố bên ngoài, ngân hàng trung ương Mỹ bơm tiền ra thị trường quá nhiều khiến cho giá lương thực thực phẩm bị đẩy lên cao và các quốc gia khác không thể kiểm soát được tình trạng này. Nguyên nhân thứ hai là yếu tố nội tại, đặc biệt đối với các nước đang phát triển có thể là do tốc độ phát triển quá nhanh.

Ông Richard Duncan từng giữ vị trí Giám đốc toàn cầu của Công ty quản lý quỹ đầu tư ABN AMRO (London), chuyên gia tài chính của World Bank (Washington D.C). Ngoài ra, ông còn giữ vai trò quản lý tại James Capel Securities and Salomon Brothers (Bangkok), chuyên gia tư vấn cho Quỹ tiền tệ Quốc tế tại Thái Lan. Hiện tại Richard Duncan là thành viên trong hội đồng quản trị quỹ đầu tư Blackhourse (Singapore).


www.DiaocNiemtin.com
VnExpress

DỰ ÁN MỚI GOLDEN CITY MẶT TIỀN ĐƯỜNG 62M NGAY KHU HÀNH CHÍNH, Kí TRỰC TIẾP VỚI CHỦ ĐẦU TƯ. GIÁ:155TR/NỀN. LH: 0933 851 121


Vị trí:

- Với vị trí chiến lược cách Tp.HCM chỉ hơn 38km, nằm ngay thị Trấn Mỹ Phước huyện Bến Cát Tỉnh Bình Dương. Trong vài năm nữa Bình Dương sẽ là thành phố cấp 1 trực thuộc TW, Bến Cát sẽ là một quận trung tâm của TP.

- Dự án mới công bố Golden City tọa lạc tại ngay Trung tâm hành chính của Quận Bến Cát. Nằm trên trục đường Quốc lộ 13 trên không, Cao Tốc Mỹ Phước – Tân Vạn và Vành Đai 4, ngay đại lộ Bình Dương.

Quy mô:

- Tổng quy mô toàn khu là 6200ha.

- Tổng quy mô dự án là hơn 18ha.

- Hệ thống đường giao thông từ 12 - 16 – 25- 62m .

- 2 mặt được Bao bọc bởi con Kênh sinh thái mang lại không gian trong lành thoáng mát.

-Gần kề khu biệt thự 5 sao Ecolakes.

- Tiện nghi đẳng cấp Quốc tế.

Tiện ích:

Liền kề

- nhiều khu Biệt thự cao cấp dành cho Doanh nhân như: Khu Đô Thị sinh thái Hoàng Gia, Coco Land, Rose Mary, Moon River, Havard Garden, Ngũ Tượng Khải Hoàn…

- Ngay khu phức hợp Wongjing, GS Square


- Đặt chỗ ngay hôm nay để có cơ cơ hội trúng thưởng: 1 Lô Đất 150m2, 1 Xe Honda SH 150, 2 Xe Piagio LX 125, 2 Xe Honda Air Blade…

- Liên hệ ngay để có cơ hội sở hữu những vị trí đẹp nhất tạị GOLDEN CITY

- Để biết thêm thông tin chi tiết. Quý khách vui lòng liên hệ: Ms. Diễm


Phone : 0933851121



Sàn Giao Dịch BĐS Kim Oanh
164 XVNT, P.21, Q. Bình Thạnh, TP.HCM
Http://diaockimoanh.com.vn

Công ty có xe đưa khách tham quan dự án miễn phí hàng ngày, kể cả Thứ 7 & Chủ Nhật


Thank for regard !

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More